Linh quế truật cam thang – 苓桂术甘汤

Linh quế truật cam thang là bài thuốc kinh điển của Trương Trọng Cảnh, chuyên trị đàm ẩm do trung dương bất túc. Với cấu trúc tinh gọn, bài thuốc thể hiện tư duy phối ngũ bậc thầy giữa ôn dương và lợi thấp.

Nguồn gốc bài thuốc Linh quế truật cam thang

Linh quế truật cam thang do Trương Trọng Cảnh sáng chế, xuất xứ từ sách 《伤寒杂病论 – Thương hàn tạp bệnh luận》, được lập ra để điều trị chứng đàm ẩm do trung tiêu dương khí bất túc, tỳ mất kiện vận gây ra, là phương thuốc chủ đạo để ôn hóa đàm ẩm.

Trong chương “Biện Thái dương bệnh mạch chứng tịnh trị trung” của sách Thương Hàn Luận có chép: “Bệnh thương hàn, nếu sau khi dùng phép thổ (nôn) hoặc hạ (tẩy), tâm hạ đầy tức nghịch lên, khí xông thẳng lên hung trung (ngực), đứng dậy thì đầu váng mắt hoa, mạch trầm khẩn, nếu dùng phép phát hãn thì động kinh, thân mình run rẩy, dùng Phục Linh Quế Chi Bạch Truật Cam Thảo Thang làm chủ”.

Trong chương thứ 12 “Đàm ẩm khái thấu bệnh mạch chứng tịnh trị” của sách 《金匮要略 – Kim quỹ yếu lược》có chép: “Dưới tâm có đàm ẩm, ngực sườn đầy tức, mắt hoa, Linh Quế Truật Cam Thang làm chủ” và “Chứng đoản khí có vi ẩm (ẩm nhẹ), nên theo đường tiểu mà đi, Linh quế truật cam thang làm chủ”.

Các bậc tiền nhân đã tiến hành nghiên cứu khá sâu về cơ chế dược lý của bốn vị thuốc Phục linh, Quế chi, Bạch truật, Cam thảo trong phương.

Các thầy thuốc đời sau dưới sự chỉ dẫn của Thương Hàn Luận đã đột phá giới hạn ứng dụng ban đầu (vốn là phương chủ trị bệnh đàm ẩm), vận dụng phương này trong điều trị đa hệ thống bệnh tật và đều đạt hiệu quả rất tốt, cho thấy tiềm năng to lớn của Linh quế truật cam thang trong điều trị “đồng bệnh dị trị” (cùng bệnh cơ, khác bệnh danh).

Phân tích vị thuốc trong Linh quế truật cam thang

Phục linh

Trong Phục linh, β-pachyman là thành phần chính, một thành phần hiệu quả khác là nhóm acid hữu cơ triterpenoid bốn vòng (Pachymic acid/Phục linh tố).

Polysaccharid trong β-pachyman có thể tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể, thúc đẩy phân chia tế bào, kích hoạt hệ thống bổ thể, kháng đột biến, kháng khối u, và có hiệu quả nhất định đối với bệnh nhân viêm gan, xơ gan, ung thư vòm họng và ung thư dạ dày.

Các acid triterpenoid bốn vòng trong Phục linh được gọi chung là Phục linh tố (Pachymic acid), đây là thành phần chính giúp lợi niệu tiêu thũng. Nó còn có tác dụng kháng u, kháng viêm, ảnh hưởng đến miễn dịch, cầm nôn và tăng cường hoạt tính của insulin.

Quế chi

Thành phần chính của Quế chi là Cinnamaldehyde (Quế bì aldehyde), có tác dụng

  • Hạ đường huyết và điều chỉnh lipid máu.
  • Thúc đẩy chức năng tạo xương của các tế bào tạo xương.
  • Hoạt tính kháng khuẩn và kháng viêm.

Các nghiên cứu hiện đại đã chứng minh Quế chi thực sự có tác dụng cải thiện vi tuần hoàn, kháng ngưng tập tiểu cầu, thể hiện ở mức độ nhất định tác dụng “ôn thông tâm dương” của Y học cổ truyền.

Bạch truật

Trong Bạch truật chứa các hợp chất như: Atractylol, Atractylon, Selinene, các hợp chất Sesquiterpene lactone (Atractylenolide) và một số hợp chất nhóm Alkyne.

Hàm lượng Atractylon trong Bạch truật khá cao, có tác dụng

  • Kháng khuẩn, kháng viêm và kháng u.
  • Ảnh hưởng đến đường tiêu hóa, có hiệu quả phòng ngừa mạnh đối với loét do stress (loét kích ứng), có thể làm dịu tình trạng suy giảm chức năng toàn thân do stress gây ra.
  • Điều tiết hai chiều (hưng phấn hoặc ức chế) đối với cơ trơn đường tiêu hóa và có tác dụng an thai.

Atractylenolide I có tác dụng tương tự như Atractylon, ngoài ra còn có tác dụng kháng bệnh bạch cầu.

Cam thảo

Cam thảo chứa Saponin triterpenoid (Glycyrrhizic acid), muối kali và canxi của nó là Glycyrrhizin – thành phần tạo vị ngọt trong cam thảo, sau khi thủy phân sẽ tạo ra Glycyrrhetinic acid.

Ngoài ra còn có các thành phần Flavonoid như: Glycyrrhizin (Liquiritin), Licorice flavonoid, Licochalcone, Glycyrol, các Alkaloid nhóm tetrahydroquinoline và Polysaccharid.

Những năm gần đây, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về việc dùng Glycyrrhizic acid để phòng và trị tổn thương gan, giúp làm phong phú và sâu sắc thêm hiểu biết về cơ chế điều trị các loại tổn thương gan của hoạt chất này.

Việc dùng Glycyrrhizic acid điều trị viêm gan C cũng nhận được sự quan tâm. Glycyrrhizic acid trong thời gian ngắn có thể giảm hiệu quả mức ALT trong huyết thanh và cải thiện tổn thương mô gan; sử dụng lâu dài có thể ngăn ngừa sự xuất hiện của các dấu hiệu ung thư biểu mô tế bào gan.

Phân tích nguyên tắc phối ngũ trong Linh quế truật cam thang

Phục linh phối Quế chi

Trong điều trị bệnh đàm ẩm, ôn dương và thẩm lợi (thông lợi kinh mạch/đường tiểu) là mấu chốt. Trọng Cảnh khi trị đàm ẩm thường dùng cặp Linh – Quế.

Trong đó, Phục linh tính bình, vị đạm, sách 《本经 – Bản kinh》nói Phục linh “ích tâm tỳ”, tức là kiện tỳ vận thấp hóa đàm ẩm, đồng thời giỏi trị các chứng đàm ẩm nội đình như “hung hiếp nghịch khí”, “tâm hạ kết thống”, lại có thể “lợi tiểu tiện” để đàm ẩm có đường ra.

Quế chi là “dương trung chi dương”, có thể ôn dương hóa khí, khiến cho phần âm tà hữu hình được tiêu tán.

Linh Quế phối hợp, một lợi một ôn, vừa có thể đạm thẩm lợi thấp, vừa có thể ôn dương hóa khí, là sự phối ngũ tối ưu dưới sự chỉ đạo của lý luận “ôn dược hòa chi” (dùng thuốc ấm để điều hòa).

Về liều lượng khi phối hợp, Phục linh thiên về lợi, Quế chi thiên về ôn; trong Linh quế truật cam thang lượng Phục linh nhiều hơn Quế chi (tỷ lệ 4:3), lấy Phục linh làm Quân, Quế chi làm Thần, thẩm lợi và ôn dương cùng tiến hành, tiêu bản kiêm cố nhưng trọng tâm là trị tiêu, là tỷ lệ thích hợp để điều trị bệnh đàm ẩm.

Nghiên cứu phối ngũ cho thấy nếu sử dụng đơn lẻ Phục linh có tác dụng lợi niệu nhất định nhưng Quế chi về cơ bản là không có tác dụng lợi niệu. Khi phối ngũ 2 vị cho tác dụng lợi niệu rõ rệt hơn Phục linh: Quế chi với tỷ lệ 2:1>1:2>4:3> Phục linh đơn vị trong tác dụng lợi niệu. Tác dụng hiệp đồng giữa Phục inh và Quế chi theo tỷ lệ 2:1 cho kết quả lợi niệu tương đồng với sử dụng Furosemid đồng thời thời gian tác dung kéo dài hơn. 

Phối ngũ Phục linh và Bạch truật

Sự phối ngũ giữa Phục linh và Bạch truật là cặp dược đối kinh điển trong các thuốc kiện tỳ lợi thủy.

Bạch truật có thể kiện tỳ táo thấp, Phục linh thông qua thẩm thấp để ích tỳ, một táo một thẩm, kết hợp giữa vận hóa và thông lợi, kiện tỳ mà trừ được nước.

Sách 《得配本草 – Đắc phối bản thảo》 nói “Phục linh có được Bạch truật sẽ đuổi được nước ở tỳ”.

Trong 13 phương thuốc có sự phối ngũ này của 《伤寒杂病论 – Thương hàn tạp bệnh luận》lượng Bạch truật thường từ 2 lạng đến 4 lạng, Phục linh dùng 3 lạng hoặc 4 lạng, nhiều nhất là nửa cân; trừ một số ít phương có lượng Bạch truật lớn hơn Phục linh, còn lại lượng Phục linh đều lớn hơn hoặc bằng Bạch truật, nhằm chú trọng vào thẩm thấp để kiện tỳ.

Vì Phục linh cam đạm tính bình, trọng dụng để kiện tỳ lợi thủy, tá thêm Bạch truật kiện tỳ táo thấp để hỗ trợ công năng trừ thấp. Liều lượng của Phục linh và Bạch truật cần xác định dựa trên quan hệ chính phụ trong phương, bệnh tình hư thực, vị trí của thấp tà…

Trong Linh quế truật cam thang, Phục linh được trọng dụng, lấy thẩm thấp lợi thủy làm chính, bổ trợ bằng Bạch truật kiện tỳ táo thấp để giúp công năng vận hóa của tỳ vị.

Các nghiên cứu của y học hiện đại cũng nhận thấy tỷ lệ Bạch truật càng lớn thì tỷ lệ chiết xuất polysaccharid càng cao, từ đó suy đoán thành phần trong Phục linh có ảnh hưởng quan trọng đến hàm lượng polysaccharid của Bạch truật.

Việc kết hợp Bạch truật và Phục linh cũng cho thấy tác dụng tăng cường miễn dịch.

Phối ngũ Quế chi và Bạch truật

Trong Linh quế truật cam thang, Trọng Cảnh lấy Quế chi và Bạch truật phối ngũ để đạt hiệu quả ôn dương kiện tỳ, lợi thủy giáng xung.

Quế chi thông dương hóa trọc, hạ khí giáng nghịch, ôn bổ tâm dương để trị thủy hàn chi tà, phối với Bạch truật có thể kiện tỳ lợi thủy.

Triệu Dĩ Đức đời Minh trong sách 《金匮方论衍义 – Kim quỹ phương luận diễn nghĩa》khi phân tích Linh quế truật cam thang có nhắc đến: “Quế chi là thuốc của kinh Thủ thiếu âm, có thể thông dương khí, mở kinh lạc, huống hồ đàm thủy gặp ấm thì hành; Bạch truật trị phong huyễn (chóng mặt), táo đàm thủy, trừ chướng mãn”. Trong phương này, hai vị Quế – Truật đều dùng để trị lý (bên trong), ôn hóa thủy thấp ở bên trong. Tỷ lệ liều lượng của hai vị không có quy tắc cố định, gia giảm theo chứng.

Phối ngũ của Cam thảo trong phương

Phân tích các phương tễ trong chương Đàm ẩm, Thủy khí của sách 《金匮要略 – kim quỹ yếu lược》, tác dụng phối ngũ của Cam thảo có thể tóm lược là:

  • bồi thổ chế thủy để làm dày trung tiêu,
  • giữ thuốc ở trung tiêu để lợi thủy từ từ,
  • tân cam tương hợp để phát dương khí 

Linh quế truật cam thang trị chứng thủy ẩm do trung dương bất vận, vị trí bệnh tại tỳ, tại trung tiêu. Phương dùng Cam thảo hợp với Bạch truật, Phục linh để bồi thổ trị thủy, kiện tỳ thẩm thấp mà thành phương chủ trị đàm ẩm.

Nếu trong phương thuần dùng các vị thông lợi mạnh bạo thì chỉ làm tổn thương tân dịch mà ẩm khó đi, có Cam thảo sẽ hành tính hòa hoãn, khiến các thuốc thẩm lợi hóa thấp có thể lưu lại trung tiêu phát huy tác dụng từ từ, tránh việc thuốc sơ lợi đi thẳng xuống hạ tiêu.

Ngoài ra, Quế chi tính tân ôn phối ngũ với Cam thảo tính cam ôn, tân cam tương hợp càng có thể kích phát dương khí. Quế chi phối ngũ với Cam thảo có thể thúc đẩy việc chiết xuất hoạt chất Cinnamaldehyde, từ đó tăng cường tác dụng ôn kinh thông mạch của Quế chi đồng thời sự phối ngũ này cũng giúp ức chế ngưng tập tiểu cầu và chống hình thành huyết khối.

Tổng quan toàn phương: Ôn mà không táo, lợi mà không tuấn (thông lợi nhẹ nhàng, không quá mạnh bạo), cùng hợp lực đạt được công năng ôn dương hóa ẩm, kiện tỳ lợi thấp.

  • Trọng dụng Phục linh làm Quân để thẩm thấp kiện tỳ, khứ đàm hóa ẩm, khiến thủy ẩm theo đường tiểu mà ra;
  • Thần là Quế chi với tính tân ôn giúp ôn dương hóa khí, bố hóa tân dịch, bình xung giáng nghịch, hiệp trợ Quân dược tăng cường sức hóa ẩm lợi thủy;
  • Tá là Bạch truật kiện tỳ táo thấp, giúp vận hóa để ngăn chặn nguồn sinh đàm, hợp với Quế chi để ôn vận trung dương, hiệp với Phục linh để kiện tỳ khử thấp;
  • Tá sứ là Chích Cam thảo bổ tỳ ích khí, hợp với Quế chi giúp hóa dương khí, tá với Phục linh để chế bớt tính thẩm lợi quá mức gây thương tân, đồng thời điều hòa các vị thuốc.
  • Bốn vị thuốc cùng đạt được công năng kiện tỳ lợi thấp, ôn dương hóa ẩm.
  • Dược hiệu của bài thuốc phụ thuộc chính vào tỷ lệ Phục linh và Quế chi. ở mức liều của phương gốc, nếu tiếp tục tăng liều thì xu hướng tăng dược hiệu không lớn. Trong khi đó Bạch truật và Cam thảo chỉ có sự thay đổi mang tính xu hướng, tức là đóng vai trò hỗ trợ vị thuốc chính, việc tăng giảm liều lượng của chúng không ảnh hưởng đáng kể đến dược hiệu toàn phương.

Ứng dụng bài thuốc Linh quế truật cam thang

Trong y văn kinh điển, ứng dụng của Linh quế truật cam thang bao gồm:

Công dụng: Ôn dương hóa ẩm, kiện tỳ lợi thấp

Chủ trị: Đàm ẩm do trung dương bất túc. Biểu hiện: Ngực sườn đầy tức, mắt hoa, tâm quý (tim hồi hộp); hoặc đoản hơi mà ho, rêu lưỡi trắng trơn, mạch huyền hoạt.

Chủ chứng: tỳ dương hư, tỳ mất kiện vận, đàm ẩm nội sinh gây ra. Trung dương bất túc khiến khí hóa bất lợi, tỳ không vận hóa được thấp, từ đó tích thấp sinh đàm, kết tụ thành ẩm.

  • Thủy ẩm đọng tại ngực sườn: Gây ra trướng mãn ngực sườn.
  • Đàm ẩm ngăn trở thanh dương đi lên: Gây ra đầu mục huyễn vựng (chóng mặt).
  • Thủy ẩm nghịch lên lăng áp tâm phế: Gây ra tâm quý (hồi hộp), đoản hơi mà suyễn.
  • Rêu lưỡi trắng trơn, mạch huyền hoạt: Đều là những dấu hiệu của thủy ẩm đình tụ bên trong.

Bệnh hệ thần kinh

Linh quế truật cam thang chủ yếu được dùng cho các chứng thuộc tỳ mất kiện vận, thủy thấp nội đình, với biểu hiện chính là huyễn vựng (chóng mặt) như: chóng mặt do tai trong, hội chứng Ménière…

  • Chóng mặt tai trong: nếu chóng mặt, nôn mửa nặng gia Trạch tả, Pháp Bán hạ, Sinh khương; tâm quý (hồi hộp) rõ rệt gia Phù tiểu mạch, Viễn chí, Bá tử nhân; nạp đái (ăn kém) gia Kê nội kim, Tiêu Sơn tra, Thần khúc.
  • Trị hội chứng Ménière: gia Sinh Mẫu lệ, Trạch tả, Pháp Bán hạ, Sinh Long cốt, Uất kim, Thạch xương bồ, Từ thạch, Sinh khương, Câu đằng, Đan sâm, Xuyên khung…
  • Trị chóng mặt do thủy ẩm nội đình. Chóng mặt nặng gia Sinh Long cốt, Sinh Mẫu lệ; nôn nhiều gia Tuyền phúc hoa, Đại giả thạch, Sao Chỉ xác; kèm ù tai, điếc tai gia Thạch xương bồ; huyết áp cao gia Hoài Ngưu tất, Địa long; đau đầu dữ dội gia Xuyên khung, Bạch chỉ.

Bệnh hệ tim mạch

Linh quế truật cam thang trị chứng thủy ẩm trở ngại tâm dương, giúp trừ ẩm, chấn hưng hung dương, tiêu trừ triệu chứng.

  • Bệnh tâm phế mạn: Điều trị Tây y kết hợp Sinh mạch tán hợp Linh quế truật cam thang
  • Suy tim sung huyết mạn tính, các triệu chứng tức ngực, hồi hộp, hụt hơi, khó thở 
  • Trị đau thắt ngực do bệnh mạch vành, triệu chứng cải thiện rõ, điện tâm đồ cho thấy tình trạng thiếu máu cục bộ giảm.
  • Trị suy tim mạn tính (chứng thủy khí lăng tâm) bằng phương này gia Nhân sâm, Đình lịch tử, Trạch lan, hiệu quả cao hơn hẳn nhóm đối chứng thuần Tây y.
  • Tăng huyết áp: gia thêm Cát căn, Ngưu tất, Hạ khô thảo

Bệnh hô hấp

Các bệnh hô hấp có bệnh cơ tại Phế, Tỳ, Thận kèm đàm ẩm nội đình đều có thể sử dụng phương này.

  • Trị hen suyễn: gia Tế tân, Ma hoàng, Tô tử, Ngũ vị tử, Tang bạch bì
  • Viêm phế quản mạn tính: gia Tô tử, Hạnh nhân, Tử uyển, Khoản đông hoa, Chế Bán hạ, Trần bì.
    • Hàn rõ gia Tế tân, Can khương;
    • Đàm nhiều có bọt gia Bạch giới tử, Phòng phong;
    • Khí trệ gia Chỉ xác, Lai phục tử;
    • Khí hư gia Sao Đảng sâm, Hoàng kỳ;
    • Ho suyễn nặng gia Bạch quả, Trầm hương khúc

Bệnh tiêu hóa

  • Trị viêm dạ dày trào ngược dịch mật (gia Hoàng liên, Ngô thù du
  • Trị viêm dạ dày mạn tính: có nhiệt gia Hoàng liên, Ngô thù du; khí hư gia Thái tử sâm, Hoàng kỳ; đau nhói gia Bồ hoàng, Ngũ linh chi
  • Gan nhiễm mỡ: là kết quả của tỳ dương bất túc, chức năng tán tinh bị tổn thương. Theo nguyên tắc “dị bệnh đồng trị” (khác bệnh cùng cách trị), có thể dùng Linh quế truật cam thang để điều trị. Qua thực tiễn lâm sàng lâu dài đã đạt hiệu quả tốt, đặc biệt là gan nhiễm mỡ đơn thuần không triệu chứng rõ rệt.

Bệnh hệ tiết niệu

  • Bí tiểu sau sinh. Đau bụng dưới, sản dịch ít gia Ích mẫu thảo, Chế Hương phụ, Ô dược; mồ hôi nhiều gia Bạch thược, Lỗ đậu y; ăn kém, phân lỏng gia Sao Sơn dược, Sao Đảng sâm.
  • Trị sỏi đường tiết niệu bằng phương này gia Hoàng kỳ, Can khương, Kim tiền thảo, Uất kim, Kê nội kim, Hoài Ngưu tất

Một số bệnh lý khác

  • Trị bệnh đới hạ (khí hư): thể Tỳ hư gia Nhân sâm, Ý dĩ nhân; Thận dương hư gia Lộc nhung; Thận âm hư gia Quy bản; Thấp nhiệt gia Nhân trần, Hoàng bá
  • Trị viêm da phối hợp Đảng sâm, Cát căn

Linh quế truật cam thang là phương thuốc chủ đạo để thông dương lợi thủy. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa nghiên cứu dược lý hiện đại và ứng dụng lâm sàng đa dạng, bài thuốc không chỉ trị đàm ẩm mà còn mở ra tiềm năng lớn trong điều trị các bệnh lý chuyển hóa và nội khoa phức tạp.

Tài liệu tham khảo

苓桂术甘汤配伍规律、药理研究及临床应用文献综述 – 中医学, 2013, 2, 10-15

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chỉ mục