Chẩn đoán và điều trị Cảm mạo Phong hàn theo y học cổ truyền – Bộ Y Tế 2026

Trong hệ thống lý luận của “Thương hàn luận”, cảm mạo phong hàn được xem là một trong những thể bệnh kinh điển nhất, thường xuất hiện khi cơ thể bị phong tà và hàn tà xâm nhập vào lúc thời tiết chuyển lạnh hoặc mưa ẩm. 

Triệu chứng Cảm mạo phong hàn

Cảm mạo phong hàn với yếu tố chính gây bệnh là Phong tà và Hàn tà do vậy người bệnh có những triệu chứng khá đặc trưng như

  • Nhẹ thì ngạt mũi, giọng khàn, hắt hơi, chảy nước mũi trong, ngứa họng, đờm ít màu trắng; nặng thì sợ lạnh nhiều, sốt nhẹ, không mồ hôi, đau đầu, khớp chi đau mỏi, rêu lưỡi mỏng, trắng mà nhuận, mạch phù hoặc phù khẩn.
  • Nếu kèm thấp tà: Nặng đầu, người mệt mỏi, tức ngực, buồn nôn, ăn vào đau bụng đi ngoài, miệng nhạt không khát, rêu lưỡi trắng bẩn, mạch hoạt.
  • Nếu kèm đàm trọc: Ho nhiều đờm, tức ngực, ăn ít, rêu lưỡi trắng bẩn, mạch hoạt.
  • Nếu kèm khí trệ: Tức ngực khó chịu, đau vùng hạ sườn, mạch huyền.
  • Nếu kèm hàn hóa hỏa: Phong hàn chứng nặng kèm chứng nội nhiệt như miệng khát, đau họng, ho nhiều, đờm vàng dính, tâm phiền, bí đại tiện, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.

Chẩn đoán:

  • Chẩn đoán bát cương: Biểu thực hàn.
  • Chẩn đoán kinh lạc: Bệnh tại Phế vệ.
  • Chẩn đoán nguyên nhân: Ngoại nhân.

Điều trị Cảm mạo phong hàn

Pháp điều trị: Tân ôn giải biểu, tuyên Phế tán hàn.

Thuốc uống trong

Cổ phương: Bài “Thông xị thang” gia vị hoặc bài “Kinh phòng bại độc tán” gia giảm:

  • Bài Thông xị thang gia vị (Trửu hậu phương): Thông bạch 10g, Hạnh nhân 10g, Đậu xị 10g, Kinh giới 10g, Tô diệp 10g, Phòng phong 08g. Bài “Thông xị thang” thường dùng để điều trị cảm mạo phong hàn thể nhẹ.
  • Bài Kinh phòng bại độc tán gia giảm (Tiểu nhi dược chứng trực quyết): Kinh giới 10g, Cát cánh 08g, Phòng phong 10g, Phục linh 10g, Sinh khương 08g, Sinh cam thảo 04g, Sài hồ 08g, Chỉ xác 10g, Bạc hà 10g, Khương hoạt 10g, Xuyên khung 08g, Độc hoạt 10g, Tiền hồ 10g. Phương này thường dùng trị cảm mạo phong hàn thể nặng. Người thể chất hư suy có thể dùng thêm Nhân sâm để phù chính khu tà.
    • Nếu phong hàn kèm theo thấp có thể gia thêm Hậu phác, Trần bì, Thương truật, Bán hạ hoặc có thể tùy chứng mà dùng “Khương hoạt thắng thấp thang” gia giảm để sơ phong trừ thấp.
    • Nếu kèm đàm trọc: Gia “Nhị trần thang” để hóa đàm trừ thấp.
    • Nếu kèm khí trệ: Gia Hương phụ, Tô ngạnh để lý khí sơ Can.
    • Nếu kèm hàn hóa hỏa: Có thể dùng “Ma hạnh thạch cam thang” giải biểu thanh lý; ngoại hàn nhiều gia Kinh giới, Phòng phong để giải biểu, lý nhiệt nhiều gia Hoàng cầm, Chi tử, Tri mẫu để thanh nhiệt.
    • Nếu biểu lý đều thực: Có thể dùng “Phòng phong thông thánh tán” gia giảm.
  • Đối pháp lập phương: Lựa chọn các vị thuốc thuộc các nhóm thuốc theo pháp điều trị.
  • Nghiệm phương: Kinh giới 12g, Tía tô 12g, Bạch chỉ 12g, Trần bì 06g, Quế chi 06g, Bạc hà 10g, Sinh khương 03 lát (09g). Sắc uống ngày 01 thang, uống từ 1 – 3 thang.
  • Cháo giải cảm: Gạo tẻ 30g, Lá tía tô (thái nhỏ) 08g, Hành sống (giã nhỏ) 3 củ (15g), Gừng sống 3 lát (09g), Muối 01g. Gạo nấu nhừ rồi cho hành, gừng, tía tô và muối vào, có thể cho 01 quả trứng gà vào khuấy đều, ăn khi cháo còn nóng, sau ăn đắp chăn khoảng 30 phút cho ra mồ hôi và lau khô người, thay quần áo.

Thuốc dùng ngoài:

  • Nấu nồi thuốc xông với đủ ba nhóm lá tươi:
    • Nhóm lá có tác dụng kháng sinh: Lá hành, lá tỏi, …
    • Nhóm lá có tác dụng hạ sốt: Lá tre, lá duối, …
    • Nhóm lá tinh dầu, có tác dụng sát trùng đường hô hấp: Lá chanh, lá bưởi, lá tía tô, lá kinh giới, lá bạc hà, lá sả, lá hương nhu, …
    • Mỗi loại lá trong nhóm từ 50 – 100g, tổng cộng các loại lá khoảng 500 – 700g, rửa sạch, cho lá có tác dụng kháng sinh và hạ sốt vào nồi đun với khoảng 2 – 3 lít nước, đậy kín vung, đun đến khi sôi thì cho lá có tinh dầu vào, đậy kín vung đun sôi lại, sau đó bắc nồi ra và tiến hành xông. Khi xông trùm chăn hoặc ga y tế kín toàn thân và nồi xông, mở
      nồi nước xông từ từ cho hơi nóng bốc lên tùy theo khả năng chịu đựng của cơ thể.
    • Người bệnh vừa hít thở sâu hơi nước thuốc, vừa dùng dụng cụ khuấy nồi thuốc xông cho hơi thuốc bốc lên cho đến khi thấy mồ hôi ở đầu, mặt, cổ, ngực, lưng toát ra thì dừng lại, thời gian xông từ 15 – 20 phút. Sau khi xông xong, lau sạch mồ hôi bằng khăn khô, thay quần áo, tránh gió lạnh, sau đó ăn bát cháo giải cảm (cháo nóng).
  • Chườm ngải:
    • Nguyên liệu: Ngải cứu tươi 200 – 300g hoặc ngải cứu khô lượng vừa đủ, muối hạt 20 – 30g hoặc cao ngải cứu ở dạng thành phẩm.
    • Chuẩn bị: Sao nóng muối với ngải cứu. Bọc ngải cứu và muối sao trong túi chườm hoặc khăn vải dày hoặc cao ngải cứu đã được làm nóng chườm vùng gáy, vai, lưng, thắt lưng dọc theo kinh Bàng quang, ở tay dọc theo kinh Phế, kinh Đại trường. Ngày làm một 1 – 2 lần. Mỗi lần 10 – 20 phút.

Châm, cứu:

  • Châm tả, cứu các huyệt sau: Phong trì, Phong môn, Hợp cốc
  • Nếu ngạt mũi, sổ mũi, châm tả các huyệt: Quyền liêu, Nghinh hương Liệt khuyết
  • Nếu ho nhiều, châm tả các huyệt: Xích trạch, Thái uyên, Ngư tế
  • Nếu sốt châm tả các huyệt: Đại chùy, Khúc trì, Ngoại quan
  • Nếu đau đầu nhiều châm tả các huyệt: Bách hội, Thái dương, Thượng tinh
  • Lưu kim 20 – 30 phút/lần/ngày, điều trị triệu chứng cho đến khi bệnh ổn định.
  • Các kỹ thuật châm: Hào châm, điện châm, ôn châm, ôn điện châm.
  • Nhĩ châm hoặc điện nhĩ châm các huyệt sau: Dưới não Giao cảm Phế, Thần kinh thực vật Chẩm Thanh quản. Liệu trình 1 lần/ngày, điều trị triệu chứng cho đến khi bệnh ổn định.

Xoa bóp bấm huyệt:

  • Nếu người bệnh đau đầu, đau cổ gáy nhiều có thể xoa, xát, miết, day, lăn vùng đầu, cổ gáy, …, bấm các huyệt: Bách hội Tứ thần thông Phong trì Thái dương Thượng tinh Hợp cốc Phong phủ Liệt khuyết Phế du Thái uyên
  • Xoa bóp bấm huyệt 20 – 30 phút/lần/ngày, điều trị triệu chứng cho đến khi bệnh ổn định.

Thủy châm

Sử dụng các thuốc theo y lệnh có chỉ định tiêm bắp vào huyệt Phong trì, nếu ngạt mũi, sổ mũi thủy châm thêm Quyền liêu, nếu ho nhiều thủy châm thêm Phế du, điều trị triệu chứng cho đến khi bệnh ổn định. Tùy từng trường hợp cụ thể có thể lựa chọn thuốc, công thức huyệt phù hợp với chẩn đoán.

Giác hơi

Giác hơi vùng gáy, vai, lưng, thắt lưng dọc theo kinh Bàng quang, ở tay dọc theo kinh Phế, kinh Đại trường. Ngày làm một lần.

Phương pháp đánh gió:

  • Thuốc để đánh gió gồm Gừng tươi 8g, Ngải cứu 40g, Hành 5 củ (25g), rượu hoặc giấm vừa đủ. Cách làm: Các vị thuốc giã nhỏ, sao nóng, chế rượu vào trộn đều thành hỗn dịch. Bọc hỗn dịch trong miếng vải sạch, chà xát lên da toàn thân, nhiều nhất là hai bên thái dương, cơ cạnh cột sống hai bên, làm cho người ấm nóng lên.
  • Có thể dùng quả trứng gà luộc, bóc vỏ bỏ lòng đỏ, cho đồng bạc vào giữa lòng trắng trứng, lấy vải sạch bọc ngoài quả trứng còn nóng, xát lên lưng người bệnh từ trên xuống dưới, làm liên tục 10 đến 15 phút.

Cảm mạo phong hàn là hệ quả của việc “vệ biểu không cố”, tạo điều kiện cho luồng gió lạnh từ môi trường xâm nhập vào cơ thể. Chìa khóa để điều trị dứt điểm thể bệnh này chính là phương pháp giải biểu tán tà, sử dụng các bài thuốc có tính ấm như Ma hoàng thang hay Quế chi thang để khai thông tấu lý, giúp cơ thể phát hãn (ra mồ hôi) và đẩy lùi hàn khí.

Tuy nhiên, người bệnh cần lưu ý nguyên tắc “vừa đủ”: không nên lạm dụng các vị thuốc quá nóng hoặc phát hãn quá mức gây tổn thương tân dịch. Đặc biệt với những người vốn có thể chất dương hư, việc kết hợp giữa “khu tà” (đuổi bệnh) và “phù chính” (bồi bổ cơ thể) là vô cùng quan trọng. Hãy luôn lắng nghe cơ thể và giữ ấm đúng lúc để phong hàn không còn là nỗi lo mỗi khi mùa đông về hay thời tiết chuyển mình đột ngột.

Tài liệu tham khảo

Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh theo Y học cổ truyền kết hợp Y học cổ truyền với Y học hiện đại – Bộ Y tế 2025

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chỉ mục