Nếu cảm mạo phong hàn gắn liền với cái lạnh thấu xương của mùa đông, thì cảm mạo phong nhiệt lại thường bùng phát khi thời tiết chuyển sang xuân hè, khí hậu ấm dần hoặc trong những đợt dịch bệnh lây lan mạnh. Dưới góc nhìn của Y học cổ truyền, đây là trạng thái phong tà kết hợp với nhiệt tà xâm kích vào Phế vệ, làm mất đi sự điều hòa của cơ thể.
Triệu chứng Cảm mạo phong nhiệt
- Phát sốt, sợ lạnh ít, mồ hôi ra ít, đau đầu, ngạt mũi, chảy nước mũi đục, miệng khô khát, họng sưng đỏ đau, ho, đờm vàng dính, lưỡi rêu vàng mỏng, mạch phù sác.
- Nếu phong nhiệt nặng hoặc cảm thụ tà của thời dịch: Sốt cao không giảm, sợ lạnh hoặc lúc lạnh lúc nóng, đau đầu, mũi họng khô, miệng khát, tâm phiền, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch phù sác.
- Nếu kèm theo thấp tà: Đầu nặng, người mệt mỏi, tức ngực, tiểu tiện đỏ, rêu lưỡi vàng bẩn, mạch phù sác.
- Nếu bệnh vào mùa thu kèm theo táo tà: Môi mũi họng khô, miệng khát, ho khan không có đờm hoặc ho đờm khó khạc, chất lưỡi đỏ khô, mạch phù sác.
Chẩn đoán Cảm mạo phong nhiệt
- Chẩn đoán bát cương: Biểu thực nhiệt
- Chẩn đoán kinh lạc: Bệnh tại Phế vệ
- Chẩn đoán nguyên nhân: Ngoại nhân
Điều trị Cảm mạo phong nhiệt
Tân lương giải biểu, thanh Phế thấu tà
Thuốc uống trong
Cổ phương: Dùng bài “Ngân kiều tán” hoặc “Tang cúc ẩm” gia giảm:
- Ngân kiều tán gia giảm: Kim ngân hoa 12g, Liên kiều 12g, Bạc hà 12g, Kinh giới 10g, Đậu xị 12g, Cát cánh 12g, Ngưu bàng tử 12g, Cam thảo 4g, Trúc diệp 8g, Lô căn 15g.
- Đau đầu nhiều gia: Tang diệp, Cúc hoa thanh lợi đầu mắt.
- Ho đờm nhiều gia: Hạnh nhân, Bối mẫu, Qua lâu bì để chỉ khái hóa đàm.
- Họng sưng đau gia: Bản lam căn, Huyền sâm để thanh nhiệt giải biểu, lợi họng.
- Phong nhiệt nặng hoặc thời hành cảm mạo gia: Cát căn để giải cơ; Hoàng cầm, Thạch cao để thanh nhiệt; Tri mẫu, Thiên hoa phấn để sinh tân chỉ khát.
- Nếu kèm theo thấp tà: Gia Hoắc hương, Bội lan để hóa thấp.
- Nếu kèm theo thử tà: Gia Sinh hà diệp, Hà ngạnh, Sinh hoắc hương, Sinh bội lan, Tây qua bì, “Lục nhất tán” để thanh hóa thử thấp.
- Nếu mùa thu kèm táo tà: Gia Hạnh nhân, Qua lâu bì; có thể dùng “Tang hạnh thang” gia giảm để sơ phong thanh táo, dưỡng âm túc Phế.
- Tang cúc ẩm: Tang diệp 12g, Hạnh nhân 12g, Cát cánh 12g, Bạc hà 4g, Cúc hoa 12g, Liên kiểu 12g, Lô căn 12g, Cam thảo 4g. Sắc uống mỗi ngày 01 thang, chia 2 lần. Bài thuốc Tang cúc ẩm thiên về tuyên Phế chỉ khái, Ngân kiều tán tác dụng thiên về thấu hãn giải biểu thanh nhiệt.
- Nghiêm phương: Bạc hà 10g, Cát căn 10g, Địa liền 10g, Trúc diệp 10g, Cúc tần 10g, Thương nhĩ tử 13g, Cam thảo đất 10g, Tang diệp 10g, Bạch chỉ 10g, Cối xay 10g. Sắc uống ngày 1 thang, uống 3 thang.
- Cháo giải cảm như thể Cảm mạo phong hàn, tuy nhiên thể này chỉ nên cho ra dâm dấp mồ hôi là được, tránh làm tổn thương tân dịch.
Châm cứu
- Châm tả các huyệt: Kiên tỉnh, Phong trì, Phong môn,
- Nếu sốt: Đại chùy, Khúc trì, Hợp cốc hoặc chích nặn máu Thập tuyên, huyệt tỉnh, huyệt huỳnh.
- Nếu chảy máu cam: Nội đình, Nghinh hương
- Ho nhiều châm tả: Trung phủ, Thái uyên, Xích trạch
- Lưu kim 20 – 30 phút/lần/ngày, điều trị triệu chứng cho đến khi bệnh ổn định.
- Kỹ thuật châm: Hào châm, Điện châm
- Nhĩ châm, nhĩ điện châm các huyệt: Thần môn, Nội quan, Phế, Thanh quản. Ngày 1 lần, điều trị đến khi bệnh ổn định.
Xoa bóp bấm huyệt
- Nếu người bệnh đau đầu, đau cổ gáy nhiều có thể xoa, xát,miết, day, lăn vùng đầu, cổ gáy, … bấm các huyệt: Bách hội, Tứ thần thông, Phong trì, Thái dương, Thượng tinh, Hợp cốc, Phong phủ,Trung phủ, Xích trạch.
- Xoa bóp 20 – 30 phút/lần/ngày, điều trị triệu chứng cho đến khi bệnh ổn định.
Thủy châm:
- Sử dụng các thuốc theo y lệnh có chỉ định tiêm bắp vào huyệt Túc
tam lý, Khúc trì, Phong trì, Trung phủ, điều trị triệu chứng cho đến khi bệnh ổn định.
Giác hơi
- Giác hơi vùng gáy, vai, lưng, thắt lưng dọc theo kinh Bàng quang. Ở tay dọc theo kinh Tâm bào, kinh Đại trường. Ở chân dọc theo kinh Vị, kinh Đởm và kinh Thận. Ngày làm một lần.
Phương pháp đánh gió:
- Thuốc để đánh gió gồm Gừng tươi 8g, Ngải cứu 40g, Hành 5 củ (25g), rượu hoặc giấm vừa đủ. Cách làm: Các vị thuốc giã nhỏ, sao nóng, chế rượu vào trộn đều thành hỗn dịch. Bọc hỗn dịch trong miếng vải sạch, chà xát lên da toàn thân, nhiều nhất là hai bên thái dương, cơ cạnh cột sống hai bên, làm cho người ấm nóng lên.
- Có thể dùng quả trứng gà luộc, bóc vỏ bỏ lòng đỏ, cho đồng bạc vào giữa lòng trắng trứng, lấy vải sạch bọc ngoài quả trứng còn nóng, xát lên lưng người bệnh từ trên xuống dưới, làm liên tục 10 đến 15 phút.
Cảm mạo phong nhiệt là một thể bệnh thực chứng điển hình, nơi nhiệt tà chiếm ưu thế và trực tiếp tấn công vào hệ thống hô hấp (Phế). Để điều trị hiệu quả, nguyên tắc cốt lõi không phải là dùng các vị thuốc cay ấm (tân ôn) mà phải dùng các vị thuốc có tính mát, bốc hơi nhẹ nhàng (tân lương) như Bạc hà, Kim ngân hoa hay Liên kiều để vừa đẩy tà khí ra ngoài, vừa thanh lọc nhiệt độc bên trong.
Tuy nhiên, trong quá trình điều trị, chúng ta cần đặc biệt lưu ý không lạm dụng các thuốc quá đắng lạnh (khổ hàn) quá sớm để tránh làm tổn thương đến tỳ vị. Đối với những trường hợp cảm mạo phong nhiệt có tính chất lây nhiễm mạnh (dịch độc), việc kết hợp giữa giải biểu và thanh nhiệt giải độc là vô cùng cần thiết. Một chế độ ăn uống thanh đạm, bù đủ nước và nghỉ ngơi hợp lý sẽ là “trợ thủ” đắc lực giúp chính khí vững vàng, sớm quét sạch nhiệt tà ra khỏi cơ thể.
Tài liệu tham khảo
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh theo Y học cổ truyền kết hợp Y học cổ truyền với Y học hiện đại – Bộ Y tế 2025