Điều trị chứng đái dầm ở trẻ em bằng Đông y

Đái dầm là tình trạng khá phổ biến ở trẻ nhỏ, không chỉ gây phiền toái cho trẻ mà còn làm hao tổn sức khỏe của cha mẹ. Đông y trong vấn đề đái dầm ở trẻ là sự lựa chọn của nhiều gia đình.

1. Đôi nét về đái dầm ở trẻ

Đái dầm ở trẻ em (Nocturnal Enuresis) là bệnh lý rối loạn chức năng hệ tiết niệu thường gặp trong thời thơ ấu, chỉ tình trạng trẻ trên 5 tuổi không tự chủ được hành vi bài tiết nước tiểu trong khi ngủ với tần suất trên 2 lần mỗi tuần và kéo dài trên 3 tháng. Theo định nghĩa của Hiệp hội Kiểm soát Tiểu tiện Quốc tế (ICS), đái dầm nguyên phát chiếm 80%~90% tổng số ca bệnh, liên quan mật thiết đến sự chậm phát triển chức năng kiểm soát bài tiết của hệ thần kinh trung ương.

Về dịch tễ học: Các cuộc điều tra cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em từ 6~12 tuổi trên toàn cầu là 5%~15%. Trong đó, khoảng 15% trường hợp không được can thiệp có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao gấp 1,5~2 lần so với nữ giới. Nếu cha hoặc mẹ có tiền sử đái dầm, nguy cơ mắc bệnh ở trẻ tăng gấp 5~7 lần, cho thấy vai trò quan trọng của yếu tố di truyền.

Về hệ lụy: Đái dầm kéo dài có thể dẫn đến nhiễm trùng tiết niệu tái phát, chàm cơ quan sinh dục ngoài. Về mặt tâm lý, khoảng 68% trẻ mắc bệnh gặp các rối loạn cảm giác như tự ti, lo âu. Theo khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Đái dầm trẻ em Quốc tế (ICCS), điểm số trên Thang đo Trầm cảm trẻ em (CDI) ở trẻ đái dầm cao hơn 4,2 điểm so với bạn đồng lứa khỏe mạnh, tỷ lệ hành vi né tránh xã hội tăng 2,8 lần. Nghiêm trọng hơn, cảm giác xấu hổ kéo dài khiến một số trẻ bị tổn thương chức năng nhận thức, nguy cơ rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) tăng cao hơn 40%.

Vai trò của Đông y: Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển tuy nhiên giải pháp an toàn cho trẻ đái dầm không nhiều. Đông y trở thành sự lựa chọn của nhiều phụ huynh nhờ ưu thế điều tiết đa đích. Cuốn《黄帝内经 – Hoàng đế Nội kinh》lần đầu đưa ra khái niệm “Bàng quang bất ước vi di niệu”. Các y gia đời sau đã từng bước hoàn thiện lý luận bệnh cơ về sự mất điều hòa hiệp đồng giữa 4 tạng Thận – Tỳ – Phế – Can, nhấn mạnh nguyên tắc điều trị “Cố bản bồi nguyên” (Củng cố gốc rễ, bồi bổ nguyên khí)

Về nghiên cứu hiện đại: Các nghiên cứu chỉ ra rằng Đông y có thể phát huy tác dụng thông qua nhiều con đường như: điều chỉnh nhịp điệu bài tiết hormone chống bài niệu (ADH), tăng cường tính ổn định của cơ bàng quang. Hiện nay, cùng với sự chuyển dịch mô hình y sinh học sang quan điểm chỉnh thể “Thân – Tâm – Môi trường”, chiến lược điều trị cá thể hóa “Biện chứng luận trị” của Đông y, cùng ưu thế an toàn của các phương pháp ngoại trị đối với trẻ em, đã cung cấp hướng đi mới để giải quyết bài toán nan giải trong điều trị đái dầm ở trẻ.

2. Đái dầm ở trẻ em theo quan niệm Đông y

Nguyên nhân gây bệnh theo Đông y

Trong Đông y, Đái dầm thuộc phạm trù Di niệu, cơ chế bệnh sinh cốt lõi là do công năng tạng phủ thất điều dẫn đến Tam tiêu khí hóa thất ty (rối loạn chức năng khí hóa của Tam tiêu) và Bàng quang ước thúc vô quyền (Bàng quang mất khả năng kiểm soát)

《素问·灵兰秘典论 – Tố Vấn. Linh lan bí điển luận》: “Bàng quang giả châu đô chi quan, tân dịch tàng yên, khí hóa tăng năng xuất yên.” Bàng quang không chỉ đơn thuần là nơi chứa nước tiểu, mà là “bãi sông, bãi biển” của cơ thể, nơi thủy dịch sau khi được khí hóa sẽ phân thanh trọc:

  • Phần tinh thanh được khí hóa thành tân dịch, thăng lên nuôi dưỡng tạng phủ, da lông, miệng mũi (nước bọt, mồ hôi…).
  • Phần trọc dư mới giáng xuống thành nước tiểu.

Vì vậy, câu “khí hóa tắc năng xuất yên” là nói về xuất tân dịch, không chỉ là bài xuất nước tiểu.

Cơ chế của khí hóa là thủy hỏa giao hội. Khi hỏa đủ để hóa thủy → sinh khí (tương tự phép đun nước sinh hơi). Nếu hỏa không đủ → thủy không hóa được → tân dịch không thăng, thủy dịch ứ trệ.

Điều này nhấn mạnh chức năng khí hóa của Bàng quang phụ thuộc vào sự ôn húc (sưởi ấm) của Thận dương và sự thông điều của Tam tiêu.

Trẻ em thể chất trĩ âm trĩ dương (âm dương đều non nớt) dễ bị tác động bởi các yếu tố nội ngoại nhân hình thành các mối liên quan bệnh lý.

Biện chứng phân thể

  • Thận khí bất túc: 《诸病源候论 – Chư bệnh nguyên hậu luận》: Di niệu là do bàng quang hư hàn, không thể ước thúc thủy dịch. Thận dương khuy hư, mệnh môn hỏa suy, không đủ sức khí hóa khiến Bàng quang đóng mở không đúng,tình trạng này nặng hơn vào ban đêm khi âm thịnh dương suy.
  • Tỳ Phế khí hư là mấu chốt: 《医学心悟 – Y học tâm ngộ》: Trung khí hư tắc sưu tiện vi chi biến. Tỳ mất kiện vận khiến thủy thấp đình trệ bên trong, dồn lên Phế dẫn đến tuyên giáng thất thường, đường thủy đạo thông điều bất lợi, hình thành chuỗi bệnh cơ “thượng hư bất năng chế hạ”.
  • Can kinh uất nhiệt: 《证治汇补 – Chứng trị hối bổ》: Can kinh uất hỏa, sơ tiết thái quá, ép xuống bàng quang. Trẻ em can thường hữu dư, tình chí thất điều hoặc có thấp nhiệt uẩn kết có thể dẫn đến sơ tiết thất thường, nhiễu động bàng quang mà gây ra đái dầm.

Nghiên cứu hiện đại tiết lộ,

  • Lượng bài tiết hormone chống bài niệu (AVP) vào ban đêm trong huyết thanh của trẻ mắc chứng Thận dương hư giảm 42% so với trẻ khỏe mạnh, mật độ tế bào kẽ Cajal ở thành bàng quang giảm 35%
  • Ở trẻ mắc chứng Tỳ hư, độ phong phú của các chủng khuẩn sản sinh acid béo chuỗi ngắn trong hệ vi sinh đường ruột giảm 2,8 lần, thông qua “Trục Ruột – Não – Bàng quang” ảnh hưởng đến chức năng điều hòa thần kinh. Nồng độ SIgA trong nước bọt của chứng Tỳ Phế khí hư giảm 42%

Thuyết Tam tiêu khí hóa liên kết quá trình chuyển hóa thủy dịch với sự hiệp đồng của tạng phủ: Hạ tiêu Thận bàng quang chủ quản tích trữ bài tiết, Trung tiêu Tỳ vị vận hóa thủy thấp, Thượng tiêu Phế thông điều thủy đạo; bất kỳ mắt xích nào thất điều đều có thể dẫn đến “Thủy tuyền bất chỉ”. Hệ thống giải thích bệnh cơ đa tầng, đa chiều này đã cung cấp nền tảng lý luận kiên thực cho phương pháp Biện chứng luận trị của Đông y.

Lâm sàng thường gặp ba chứng trạng

  • Người mắc Thận dương hư: Đa phần kèm theo sợ lạnh chân tay lạnh, nước tiểu trong dài, do Mệnh môn hỏa suy không thể ôn húc bàng quang.
  • Chứng Tỳ Phế khí hư: Có biểu hiện ăn kém phân nát, dễ cảm mạo, do Trung khí hạ hãm dẫn đến cố nhiếp vô quyền (mất khả năng kiểm soát giữ lại).
  • Thể Can kinh thấp nhiệt: Nước tiểu mùi khai nồng, nóng nảy dễ cáu gắt, do thấp nhiệt hạ chú nhiễu động bàng quang (tà khí thấp và nhiệt dồn xuống phần dưới cơ thể (hạ tiêu), thường gây viêm nhiễm hoặc kích thích bàng quang).

3. Điều trị đái dầm bằng đông y

Súc tuyền hoàn gia giảm (缩泉丸加减)

Súc tuyền hoàn là phương thuốc kinh điển điều trị đái dầm thể thận khí bất túc. Bài thuốc gồm Ích trí nhân, Sơn dược, Ô dược có tác dụng ôn thận cố nhiếp, kiện tỳ súc niệu

  • Ích trí nhân: Vị cay tính ấm vào kinh Thận, vừa có thể ôn bổ mệnh môn hỏa, vừa có thể cố sáp hạ tiêu; sách “Bản thảo bị yếu” chép vị này giúp “súc tiểu tiện, nhiếp diên tóa” (giảm tiểu tiện, giữ nước dãi).
  • Ô dược: Vị cay tính ấm giúp khai thông, quy kinh Bàng quang, có tác dụng hành khí tán hàn, thông lợi tam tiêu; thành phần Limonene chứa trong đó có thể điều tiết chức năng thần kinh tự chủ, ức chế tần suất co bóp bất thường của cơ bức niệu bàng quang.
  • Sơn dược: Vị ngọt tính bình, quy kinh Tỳ Phế Thận, vừa kiện Tỳ ích Phế để hỗ trợ vận hóa thủy dịch, vừa tư Thận điền tinh để cố nhiếp hạ nguyên; thành phần Polysaccharide phong phú trong Sơn dược có thể nâng cao tính nhạy cảm của tế bào biểu mô ống thận đối với ADH

Gia giảm lâm sàng:

  • Với trường hợp Thận dương khuy hư rõ rệt, thường gia thêm Phụ tử để tuấn bổ nguyên dương; thành phần Aconitine giúp kích hoạt kênh TRPV1, thúc đẩy tủy thượng thận tiết Catecholamine, cải thiện tuần hoàn máu bàng quang.
  • Nếu kèm Tỳ Phế khí hư, phối ngũ thêm Hoàng kỳ 10g để bổ ích trung khí; Hoàng kỳ Polysaccharide có thể tăng cường hoạt tính enzyme Na+/K+ – ATPase, nâng cao hiệu suất tái hấp thu của ống thận.
  • Thường gia thêm Tang phiêu tiêu 9g để tăng cường lực cố sáp, thành phần Canxi Cacbonat giúp phục hồi hàng rào niêm mạc bàng quang; hoặc tá thêm Thạch xương bồ để khai khiếu tỉnh thần, thúc đẩy cơ chế thức tỉnh khi ngủ.

Dược lý hiện đại phát hiện bài thuốc giúp điều tiết biểu hiện AVP mRNA tại vùng dưới đồi, làm tăng lượng bài tiết hormone chống bài niệu vào ban đêm. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy phương thuốc này thông qua con đường tín hiệu Wnt/β-catenin thúc đẩy sự biệt hóa tế bào cơ trơn bàng quang, giúp tính ổn định của cơ bức niệu tăng 22%, đồng thời điều tiết độ phong phú của khuẩn Bacteroidetes trong hệ vi sinh đường ruột, cải thiện chức năng điều hòa thần kinh qua “trục Ruột – Não – Bàng quang”

Bổ trung ích khí thang

Bài thuốc có nguồn gốc từ cuốn 《脾胃论 – Tỳ vị luận》của Lý Đông Viên với các vị cốt lõi là Hoàng kỳ, Bạch truật, Trần bì, Thăng ma, Sài hồ, Nhân sâm, Chích cam thảo; tác dụng thăng dương cử hãm, cố bàng quang chỉ di niệu (giữ bàng quang, cầm đái dầm) đối với thể Tỳ hư khí hãm.

  • Hoàng kỳ: Là quân dược, vị ngọt ấm bổ trung ích khí; Polysaccharide giúp tăng cường hoạt tính enzyme Na+/K+ – ATPase, thúc đẩy tái hấp thu nước ở ống thận.
  • Bạch truật: Kiện Tỳ táo thấp; thành phần Atractylenolide giúp điều tiết độ phong phú của vi khuẩn Bifidobacterium trong ruột, cải thiện tình trạng Tỳ hư thấp khốn.
  • Thăng ma, Sài hồ: Hiệp đồng thăng cử thanh dương; Thăng ma Saponin có thể ức chế biên độ co bóp bất thường của cơ bức niệu đến 28%, Sài hồ Saponin thông qua điều tiết dẫn truyền thần kinh GABA làm giảm tính hưng phấn của trung khu bài tiết.
  • Nhân sâm: Đại bổ nguyên khí; Ginsenoside Rg3 giúp điều chỉnh tăng biểu hiện enzyme tổng hợp AVP tại vùng dưới đồi, làm lượng bài tiết hormone chống bài niệu ban đêm tăng 35%.
  • Trần bì: Lý khí tỉnh Tỳ; Hesperidin giúp giảm nồng độ Cortisol huyết thanh, giảm bớt rối loạn bài tiết chức năng liên quan đến lo âu

Thường gia thêm Tang phiêu tiêu để tăng lực cố sáp, phục hồi liên kết chặt chẽ của tế bào biểu mô chuyển tiếp bàng quang, giảm rò rỉ nước tiểu; nếu kèm Thận dương bất túc, phối ngũ thêm Thỏ ty tử để ôn Thận trợ dương, tăng cường khả năng thích ứng của bàng quang thông qua kích hoạt thụ thể β3-adrenergic

Nghiên cứu dược lý hiện đại xác nhận phương thuốc này có thể điều tiết đích chức năng trục Hạ đồi – Tuyến yên – Thượng thận, làm nồng độ ACTH tăng 22%, từ đó tăng cường sức co bóp cơ thắt bàng quang; đồng thời thông qua ức chế con đường tín hiệu TLR4/NF-κB, giảm lượng biểu hiện yếu tố viêm IL-6 tại thành bàng quang đến 45%, cải thiện rối loạn chức năng bàng quang do thần kinh.

Ôn châm cứu

Ôn châm cứu là phương pháp kết hợp châm và cứu trong lúc châm để điều trị. Liệu pháp này dung hợp hiệu ứng kép: thông kinh hoạt lạc của châm chích và ôn dương của ngải cứu.

Huyệt Quan nguyên được xem là gốc của nguyên khí; nhiệt bức xạ từ ngải cứu có thể làm tăng nhiệt độ cục bộ, kích hoạt kênh TRPV1 (Transient Receptor Potential Vanilloid 1), thúc đẩy giải phóng chất P và CGRP (Calcitonin Gene-Related Peptide), từ đó cải thiện vi tuần hoàn thành bàng quang. Hình ảnh nhiệt hồng ngoại cho thấy sau điều trị, nhiệt độ vùng bàng quang tăng từ 1,5°C đến 2,3°C.

Tia cận hồng ngoại sinh ra từ quá trình đốt cháy ngải nhung có thể xuyên qua dưới da 5~8 mm, tác động trực tiếp lên lớp cơ bức niệu bàng quang, nâng cao hiệu suất tổng hợp ATP của ty thể tế bào cơ trơn, tăng cường chức năng trữ nước tiểu của bàng quang. Nghiên cứu lâm sàng xác nhận, ôn châm khâu có thể nâng cao đáng kể nồng độ β-endorphin trong huyết thanh, thông qua thụ thể μ-opioid để ức chế sự hưng phấn quá mức của trung khu phản xạ bài tiết tại tủy cùng, giúp dung tích bàng quang chức năng tăng từ 20% đến 25%.

Dưới góc độ điều hòa thần kinh, vùng huyệt Quan nguyên có các nhánh thần kinh nông thành bụng phong phú, hình thành cung phản xạ với chuỗi hạch giao cảm T10-L2. Kích thích nhiệt từ ngải cứu có thể điều chỉnh tăng biểu hiện protein c-Fos tại nhân trên thị thuộc vùng dưới đồi, thúc đẩy sự phục hồi đỉnh bài tiết hormone chống bài niệu (AVP) vào ban đêm, làm giảm lượng nước tiểu trong 24 giờ. Đối với trẻ có rối loạn thức tỉnh khi ngủ sâu, ôn châm khâu có thể tăng mật độ phổ công suất sóng δ trên điện não đồ, rút ngắn thời gian tiềm tàng thức tỉnh, thúc đẩy truyền tín hiệu đầy bàng quang lên vỏ não, thể hiện đầy đủ đặc sắc trị liệu “dĩ ôn xúc thông, dĩ thông trợ cố” (lấy ấm để thông suốt, lấy thông để củng cố) của ngoại trị Đông y.

Dán thuốc vào huyệt

Liệu pháp dán huyệt thường chọn các vị thuốc Đinh hương, Nhục quế, Ngô thù du theo tỷ lệ 2:1:1 tán bột mịn, dùng nước gừng điều chế thành dạng cao dán lên huyệt Thần khuyết (rốn), phát huy tác dụng thông qua cơ chế kép: hấp thu thuốc qua da và kích thích huyệt vị.

  • Đinh hương: Vị cay ấm vào Thận, thành phần Eugenol giúp giãn mao mạch dưới da, nâng cao tỷ lệ hấp thu thuốc qua da, tinh dầu của nó kích hoạt kênh ion TRPA1, thúc đẩy giải phóng CGRP, tăng cường tưới máu thành bàng quang.
  • Nhục quế: Bổ hỏa trợ dương, thành phần Cinnamaldehyde ức chế hoạt tính enzyme acetylcholinesterase, làm tăng mật độ vị trí liên kết thụ thể M của cơ bức niệu bàng quang, cải thiện tính hiệp đồng khi co bóp.
  • Ngô thù du: Tán hàn chỉ thống, thành phần Evodiamine thông qua điều tiết biểu hiện AVP mRNA tại nhân trên thị vùng dưới đồi

Huyệt Thần khuyết là “nút thắt” tiên thiên, dưới da thiếu lớp mỡ nhưng lại phong phú về hệ thống mạch máu và hạch bạch huyết. Sau khi dán, thuốc được hấp thu nhanh chóng qua đám rối tĩnh mạch quanh rốn, kích thích đám rối thần kinh ổ bụng hình thành phản xạ Rốn – Bàng quang, điều tiết tính hưng phấn của trung khu bài tiết thông qua các phân đoạn tủy sống T10-L2. Hình ảnh nhiệt hồng ngoại cho thấy sau khi dán, nhiệt độ vùng bàng quang tăng 1,2°C~1,8°C, tần suất co bóp không ổn định của cơ bức niệu giảm xuống.

Nghiên cứu cơ chế phân tử chỉ ra rằng liệu pháp này có thể điều chỉnh tăng biểu hiện protein ZO-1 (Zonula Occludens-1), phục hồi cấu trúc liên kết chặt chẽ của tế bào biểu mô chuyển tiếp bàng quang, giảm rò rỉ nước tiểu; đồng thời điều tiết độ phong phú của các chủng khuẩn sản sinh Butyrate trong hệ vi sinh đường ruột, ức chế phản xạ bài tiết bất thường thông qua “trục Ruột – Não – Bàng quang”. Điều này thể hiện ưu thế giải phóng chậm, hiệu quả kéo dài và điều hòa đồng thời “Thân – Tâm” của ngoại trị Đông y, cung cấp phương án can thiệp an toàn, tiện lợi cho điều trị di niệu ở trẻ em.

Tiểu nhi di niệu (đái dầm ở trẻ em) thường gặp ở trẻ trên 5 tuổi, biểu hiện chủ yếu là tình trạng bài tiết nước tiểu không tự chủ trong khi ngủ. Lâm sàng chia làm hai loại: nguyên phát và thứ phát; loại trước chỉ tình trạng liên tục chưa thiết lập được khả năng tự chủ bài tiết, loại sau là tình trạng tái phát sau khi đã kiểm soát được bài tiết. Bệnh căn phức tạp, liên quan đến các yếu tố sinh lý, di truyền và tâm lý: sự chậm phát triển thần kinh dẫn đến điều tiết bàng quang bất thường, bài tiết hormone chống bài niệu ban đêm không đủ làm tăng lượng nước tiểu, dung tích bàng quang nhỏ hoặc tính nhạy cảm quá cao; khoảng 30%~40% trẻ mắc bệnh có tiền sử gia đình. Di niệu kéo dài dễ dẫn đến tự ti, rối loạn chú ý, thậm chí ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển.

Hiện nay, điều trị tiểu nhi di niệu bằng Đông y tuy đạt hiệu quả rõ rệt nhưng vẫn đối mặt với các vấn đề như: tiêu chuẩn hóa biện chứng còn thiếu, việc giải mã cơ chế tác động chưa sâu, dạng bào chế còn đơn điệu. Các xu hướng nghiên cứu mới trong tương lai có thể hướng tới các dạng bào chế mới để dễ tiếp cận với đối tượng người bệnh là trẻ nhỏ. 

Tài liệu tham khảo

1. 王仲易, 杜可, 李晨, 等. 中医儿科临床诊疗指南∙小儿遗尿症(修订) [J]. 中医儿科杂志, 2018, 14(1): 4-8

2. 张传东, 张京蓉. 益脑补肾推拿法治疗肾气不足型小儿遗尿疗效评价[J]. 中医临床研究, 2017, 9(8): 73-74

3. 周晶, 彭芳, 郝建波. 揿针治疗肾气不足型小儿遗尿疗效观察[J]. 按摩与康复医学, 2014, 5(10): 41-42

4. Fu, R., Liu, J., Xue, Y., Zhang, Z. and Song, R. (2019) Effects of Animal Strain, Dose, and Cotreatment with Saikosaponin B2 on the Pharmacokinetics of Saikosaponin a in Rats. European Journal of Drug Metabolism and Pharmacokinetics, 44, 827-836

5. 张国锋, 沈洋, 张晓兰, 等. 补中益气汤联合中药外敷治疗小儿遗尿症 50 例[J]. 中国药业, 2015, 24(6): 85-86

6. 程思沂, 张大娜, 李新杰, 袁宗江, 金轶. 温针灸肾腧穴联合缩泉丸加减治疗小儿遗尿临床研究[J]. 健康之家,
2024(3): 100-102.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chỉ mục