Tiết Xuân phân (thường rơi vào khoảng 20/3 dương lịch) là thời điểm đặc biệt khi mặt trời chiếu thẳng lên xích đạo, làm cho ngày và đêm dài bằng nhau, nóng và lạnh trung hòa. Trong Đông y, đây là giai đoạn vàng để điều chỉnh cơ thể theo nguyên tắc “Cô lập âm dương, lập lại cân bằng”.
Tiết khí Xuân phân
Xuân phân, thời cổ đại còn được gọi là “Nhật trung” (giữa ngày), “Nhật dạ phân” (ngày đêm chia đôi), “Trọng xuân chi nguyệt” (tháng giữa mùa xuân). Năm nay Xuân phân rơi vào ngày 20 tháng 3 Dương lịch, bắt đầu khi mặt trời đến kinh độ hoàng đạo 0° (điểm Xuân phân).
Sách 《明史·历一 – Minh Sử – Lịch nhất》 viết: “Phân là điểm giao nhau giữa hoàng đạo và xích đạo, mặt trời đi đến đây thì ngày đêm chia đều”. Vào ngày này, độ dài ngày và đêm bằng nhau, vừa đúng vào giữa 90 ngày của mùa xuân nên gọi là “Xuân phân”. Xuân phân cũng là thời điểm âm dương cân bằng, ngày đêm bằng nhau, nóng lạnh chia đôi trong bốn mùa của một năm.
Cái gọi là “Xuân phân giả, âm dương tương bán dã, cố trú dạ quân nhi hàn thử bình” (Xuân phân là lúc âm dương mỗi bên một nửa, nên ngày đêm bằng nhau và nóng lạnh cân bằng). Dưỡng sinh phải chú trọng đến âm dương bốn mùa; tiết Xuân phân đã chia đều ngày đêm, nóng lạnh, nên khi bảo vệ sức khỏe con người cũng cần chú ý duy trì sự cân bằng âm dương của cơ thể.
Phép dưỡng thân: Chú trọng “Xuân muộn” (Giữ ấm mùa xuân)
Sách 《黄帝内经·素问 – Hoàng Đế Nội Kinh – Tố Vấn》có chép: “Ba tháng mùa xuân, gọi là Phát trần (khơi thông những gì cũ kỹ). Thiên địa cùng sinh, vạn vật tươi tốt. Ngủ muộn dậy sớm, đi dạo thong thả ngoài sân, xõa tóc đi chậm, để cho ý chí sinh khởi”. Điều này khái quát nguyên tắc dưỡng sinh về sinh hoạt trong mùa xuân: nên ngủ muộn (trước 11 giờ đêm) và dậy sớm để có lợi cho việc thăng phát dương khí; đi bộ thong thả để thư thái tâm hồn, thúc đẩy khí huyết vận hành, giúp khí cơ được điều đạt (thông suốt).
Vào tiết Xuân phân, chênh lệch nhiệt độ giữa sáng và tối rất lớn, thỉnh thoảng vẫn có những đợt khí lạnh tấn công, vì vậy vẫn cần “Xuân muộn” (mặc ấm mùa xuân) một cách hợp lý, chú ý giữ ấm, đặc biệt là phần chân và bàn chân để tránh bị nhiễm lạnh.
- Nguyên tắc “Dưới dày trên mỏng”: Nên mặc quần áo dày ở phần dưới cơ thể và mỏng hơn ở phần trên. Điều này giúp bảo vệ dương khí đang sinh phát từ dưới lên.
- Ba vị trí “tử huyệt” cần giữ ấm:
- Chân và bàn chân: Nơi bắt đầu của nhiều kinh lạc quan trọng. Lạnh chân dễ dẫn đến lạnh bụng và yếu thận.
- Bụng: Bảo vệ hệ tiêu hóa khỏi sự xâm nhập của hàn khí, tránh đau bụng, tiêu chảy.
- Lưng: Nơi chạy dọc của mạch Đốc (bể chứa dương khí). Giữ ấm lưng giúp tăng cường miễn dịch.
- Thời điểm ngừng “ủ ấm”: Chỉ nên bắt đầu mặc đồ mỏng hoàn toàn khi nhiệt độ môi trường ổn định trên 15°C.
Khi tiết Xuân phân tới, thời tiết ấm dần, các loại vi khuẩn và virus hoạt động mạnh, các bệnh như cúm, thủy đậu, viêm phổi bước vào giai đoạn cao điểm. Thông qua việc đeo túi thơm thảo dược, chúng ta có thể phòng chống các bệnh truyền nhiễm mùa xuân một cách hiệu quả. Các vị thuốc có mùi thơm trong túi như Thương truật, Ngải diệp (lá ngải cứu), Xương bồ, Nhục quế, Sa nhân, Bạch chỉ… có tác dụng trừ uế, hóa đục, cân bằng âm dương. Đeo túi thơm hàng ngày có thể giúp chúng ta điều hòa khí cơ, thông kinh hoạt lạc, làm cho khí huyết lưu thông, tạng phủ an hòa, từ đó tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể và đóng vai trò phòng bệnh bảo vệ sức khỏe.
Phép dưỡng can (Gan): Khơi thông kinh lạc
Mùa xuân ứng với tạng Gan (Can). Gan thích sự thông suốt, ghét sự uất ức.
- Chải đầu buổi sáng: Dùng lược gỗ chải từ trán ra sau gáy. Hành động này kích thích các kinh mạch gan mật và huyệt Phong trì, giúp tinh thần tỉnh táo, giảm đau đầu và hỗ trợ dương khí bốc lên thuận lợi.
- Vỗ kinh lạc chân: Dùng lực vừa phải vỗ dọc mặt trong chân (từ cổ chân lên đến bẹn) khoảng 50 lần. Đây là lộ trình của các kinh Gan, Tỳ, Thận, giúp giải tỏa uất khí trong người.
- Ấn huyệt Kỳ môn: Huyệt này nằm ở liên sườn 6 (thẳng dưới núm vú xuống 2 gian sườn). Thường xuyên xoa bóp huyệt này giúp sơ tiết gan hỏa, rất tốt cho những người hay cáu gắt hoặc đầy bụng.
Phép dưỡng thực: “Tăng ngọt, giảm chua” để kiện tỳ
《千金要方》của Tôn Tư Mạo viết: “Vào mùa xuân, ăn uống nên bớt vị chua, tăng vị ngọt để nuôi dưỡng tỳ khí”.
Theo thuyết Ngũ hành, Can (Mộc) quá vượng sẽ lấn át Tỳ vị (Thổ). Để bảo vệ hệ tiêu hóa, chế độ ăn cần thay đổi:
- Giảm chua (Toan): Vị chua có tính thu liễm, nếu ăn quá nhiều sẽ làm gan khí bị bó buộc hoặc quá thịnh, gây hại cho dạ dày.
- Tăng ngọt (Cam): Ăn các thực phẩm có vị ngọt tự nhiên, tính ôn để bổ trợ cho Tỳ (hệ tiêu hóa)
Do đó, mùa xuân nên ăn ít vị chua, tăng cường nạp các thực phẩm vị ngọt một cách hợp lý để kiện tỳ (khỏe tiêu hóa) như: hồng táo, mật ong, hoài sơn (củ mài), bí đỏ, khoai lang.
Dựa trên nguyên tắc “Xuân hạ dưỡng dương, Thu đông dưỡng âm”, mùa xuân có thể ăn lượng vừa phải các loại thực phẩm có vị cay như hành, tỏi, hẹ, mù tạt… để thúc đẩy dương khí sinh phát.
Tiết Xuân phân cũng nên ăn nhiều rau củ theo mùa, tận dụng “khí sinh phát” của thực vật để điều đạt can khí (khí của gan), kiện tỳ thăng dương như: măng xuân, hẹ, rau bina (cải bó xôi), hương xuân (xoan hôi), rau sam, rau du tiền (dư tiền), hoa hòe…
Kiện tỳ khử thấp cũng là điểm trọng yếu của dưỡng sinh thời điểm này. Khi Xuân phân, can khí vượng dễ lấn át tỳ thổ, cộng thêm lúc này mưa nhiều, độ ẩm không khí lớn, dễ làm tổn thương tỳ vị, dẫn đến tiêu hóa kém, đầy bụng, nôn mửa, tiêu chảy… Vì thế ăn uống nên chú ý kiện tỳ khử thấp, có thể ăn nhiều ý dĩ, hoài sơn, cá diếc, đậu đỏ…
Phép vận động: “Động tĩnh kết hợp”
Xuân phân hoa nở ấm áp, nên tăng cường vận động ngoài trời, có thể đến công viên hay vùng ngoại ô để đi chơi xuân, vừa rèn luyện thân thể vừa làm tinh thần vui vẻ. Mùa xuân chính là thời điểm tuyệt vời để thả diều, vừa có thể trở về với thiên nhiên, thư thái tâm hồn, vừa có thể vận động toàn thân, khơi thông kinh lạc, điều hòa khí huyết, đạt được mục đích cường thân kiện thể. Đối với những bệnh nhân có tinh thần ức chế, mất ngủ hay quên, thả diều còn có tác dụng xua đuổi bệnh tật, dưỡng sinh.
Vận động mùa này không nên quá mạnh bạo để tránh làm hao tổn dương khí vừa mới nhen nhóm. Chỉ nên tập đến khi mồ hôi râm ran (vã mồ hôi nhẹ). Tránh tập đến mức mồ hôi đầm đìa vì mồ hôi là “tân dịch”, ra quá nhiều sẽ làm mất dương khí.
Bài tập “Xuân phân công” trong sách《遵生八笺 – Tuân Sinh Bát Tiễn》thích hợp tập từ tiết Xuân phân đến tiết Thanh minh. Phương pháp gồm
- Ngồi xếp bằng tĩnh tọa, vận khí điều hòa nhịp thở, hai tay nắm đấm, đầu – cổ – vai – khuỷu tay vươn về phía sau dùng lực thực hiện 5~6 lần;
- Gõ răng 36 lần;
- Hít thở sâu, nuốt nước bọt trong miệng xuống từ từ và quán tưởng nó xuống tận Đan điền 9 lần.
Phương pháp này có thể điều bổ gan thận, có tác dụng phòng trị các chứng ù tai, điếc tai, tê mỏi lưng vai do gan thận bất túc.
Do mùa xuân can khí vượng dễ khắc tỳ thổ, dẫn đến tiêu hóa kém, đầy bụng, tiêu chảy… có thể thông qua cứu ngải để kiện tỳ thăng dương. Tuy nhiên, việc bổ ích tỳ vị và thăng phát dương khí đều không nên quá mức. Thời gian cứu ngải cần rút ngắn thích hợp, tập trung vào các huyệt vị của kinh Can, kinh Tỳ và kinh Vị.
- Có thể chọn các huyệt: Can du, Tỳ du, Thần khuyết, Trung quản, Quan nguyên, Túc tam lý.
- Mỗi lần chọn 2~3 huyệt, mỗi huyệt cứu từ 10~15 phút cho đến khi vùng da cục bộ ấm nóng là được, chú ý tránh để bị bỏng.
Điều tiết tâm trạng
Tiết Xuân phân là lúc âm dương cân bằng, nên tâm thế con người cũng cần hướng tới sự an nhiên. Hãy cố gắng giữ tinh thần lạc quan, tránh giận dữ (hại gan) và lo âu (hại tỳ). nuôi dưỡng tính cách lạc quan cởi mở, ổn định cảm xúc, tránh lo âu và trầm cảm quá mức. Cũng nên tận dụng thời tiết nắng ấm gió nhẹ sau Xuân phân để đi tham quan công viên, hít thở không khí trong lành nhằm điều tiết thân tâm và tình chí. Ngủ sớm và dậy sớm theo nhịp điệu mặt trời là cách đơn giản nhất để cơ thể tự phục hồi và hòa nhập với dòng chảy của tự nhiên.
Dưỡng sinh tiết Xuân phân không chỉ là ăn gì, mặc gì mà là nghệ thuật duy trì sự “Trung dung” – không quá nóng, không quá lạnh, không quá vui, không quá buồn – để cơ thể đạt đến trạng thái khỏe mạnh nhất.