Trí tuệ trị “thủy” trong 《伤寒论 – Thương hàn luận》của Thánh Y Trọng Cảnh được thể hiện sống động qua phương thuốc Linh quế truật cam thang. Trọng tâm là cơ chế “ôn dương hóa khí” của bài thuốc Linh quế truật cam thang – một giải pháp kinh điển và hiệu quả cho các bệnh lý “thủy ẩm”
Cách thức vận hành của Thủy dịch trong cơ thể
Chỉ khi chuyển hóa Thủy dịch trong cơ thể cân bằng, các hoạt động sống mới diễn ra bình thường. Một khi mất cân bằng sẽ dẫn đến các bệnh về “Thủy”.
Chúng ta uống nước vào, thủy dịch chuyển hóa và vận hành trong cơ thể như thế nào? Thủy dịch bình thường vận hành phải ở dạng “Khí”. Tức là nước từ trạng thái lỏng phải chuyển hóa thành trạng thái hơi (khí) mới có thể đi khắp toàn thân. Để biến nước thành khí, cần một động lực — đó là Hỏa. Hỏa trong sinh lý người chính là Dương khí. Tác dụng ôn húc, chưng hóa của dương khí thúc đẩy thủy dịch chuyển thành khí, giống như đun nồi nước lạnh muốn có hơi nước thì phải thêm lửa. Quá trình này Đông y gọi là “Khí hóa”.
Nếu dương khí bất túc, thủy dịch trong cơ thể không thể chuyển hóa thành khí, sẽ đình tụ lại một nơi nào đó: dưới lớp da mềm gây phù thũng, ở ngực bụng gây ngực có nước (hung thủy), bụng có nước (phúc thủy), hoặc đình tụ ở nội tạng hình thành thủy bệnh của ngũ tạng (ngũ tạng thủy bệnh). Do đó, bệnh về thủy phần lớn là do thiếu hụt dương khí hay thiếu “Hỏa”. Vì vậy, khi điều trị, ta thường thêm các vị thuốc ôn dương để thúc đẩy thủy chuyển hóa thành khí. Đúng như Trương Trọng Cảnh đã nói: “Bệnh đàm ẩm, nên dùng thuốc ấm để điều hòa” (Bệnh đàm ẩm giả, đương dĩ ôn dược hòa chi).
Một số chứng bệnh do rối loạn chuyển hóa thủy dịch
Khi sự chuyển hóa thủy dịch của cơ thể thất thường, sẽ biểu hiện ra nhiều bệnh chứng, bao gồm các chứng do Thủy, Thấp, Đàm, Ẩm gây ra, dẫn đến các vấn đề ở mọi hệ thống.
Sự sinh sôi của Thủy, Thấp, Đàm, Ẩm gọi chung là chứng bệnh rối loạn chuyển hóa thủy dịch. Thông thường: thấp tụ thành thủy, thủy tụ thành ẩm, ẩm tụ thành đàm. Loại loãng là ẩm, đặc là đàm. Tuy nhiên trên lâm sàng đôi khi khó phân định rạch ròi nên có các tên gọi như: thủy thấp, thủy ẩm, đàm ẩm, đàm thấp… thể hiện quan điểm chỉnh thể của Đông y.
Cách Thương hàn luận trị bệnh về thủy
Cách trị thủy trong 《伤寒论 – Thương hàn luận》phân chia tầng thứ rất rõ ràng, cơ bản gồm ba cấp độ: Hóa thủy (ẩm), Lợi thủy và Trục thủy.
- Hóa thủy: Khi thủy thấp chưa nặng, dùng phương pháp ôn dương hóa khí (dùng thuốc ôn dương hoặc thuốc phương hương để làm bay hơi thủy thấp). Giống như trời mưa nhỏ làm ẩm mặt đất, mặt trời hiện lên sẽ làm bốc hơi ngay. Các phương như Phục linh cam thảo thang, Linh quế cam táo thang thuộc loại này.
- Táo thấp/Thẩm thấp: Khi nước đọng nhiều hơn (như một hố nước nhỏ), chỉ ôn hóa thì không đủ nhanh. Lúc này cần “Táo thấp” (dùng thuốc có tính khô) hoặc “Thẩm thấp” (dùng đất lấp hố để nước thấm vào đất). Tỳ thuộc Thổ, nên bổ Tỳ chính là bổ Thổ để thẩm thấp. Các phương như Linh quế truật cam thang, Lý trung thang thuộc loại này.
- Lợi thủy: Nếu thủy thấp quá nhiều (như một hố nước lớn), dùng đất lấp sẽ rất tốn công. Tốt nhất là khơi thông dòng chảy (đào rãnh thoát nước). Đó là phương pháp Lợi thủy. Các phương như Ngũ linh tán, Chân vũ thang, Trư linh thang thuộc nhóm này.
- Trục thủy: Nếu thủy thấp quá nặng, như lũ lụt tràn lan hoặc đường thoát tắc nghẽn nghiêm trọng, phải dùng biện pháp mạnh để xả lũ. Đây là phương pháp Trục thủy (tả hạ rất mạnh, tiểu tiện và đại tiện đều tăng vọt). Cần đặc biệt cẩn trọng khi dùng. Các phương như Thập táo thang, Đại hãm hung thang, Mẫu lệ trạch tả tán thuộc nhóm này.
Linh quế truật cam thang – Thành phần và công dụng
Linh quế truật cam thang gồm 4 vị: phục linh, quế chi, bạch truật, cam thảo. Đây là sự kết hợp của hóa thấp, thẩm thấp và lợi thủy.
- Phục linh: Vị nhạt tính bình, thẩm thấp lợi thủy, tăng lượng tiểu để bài tiết nước thừa; đồng thời kiện tỳ ninh tâm.
- Quế chi: Vị cay ngọt tính ấm, ôn dương hóa khí, khai vị kiện tỳ, giãn mạch máu để “hóa” phần nước thừa.
- Bạch truật: Vị đắng tính ấm, bổ ích tỳ khí, táo thấp, phối hợp với phục linh để hấp thụ dịch thủy dư thừa.
- Cam thảo: Một mặt bổ tỳ khí, mặt khác điều hòa các vị thuốc.
Linh quế truật cam thang trị Huyễn vựng
Trương Trọng Cảnh dùng nó để điều trị chứng thủy ẩm nội đình do tỳ hư. Tỳ là “nguồn sinh ra khí huyết”, là “gốc hậu thiên”. Tỳ hư không vận hóa được thủy dịch, nước sẽ đọng lại thành đàm ẩm gây bệnh.
Trong 《伤寒论 – Thương hàn luận》, tỳ hư thủy đình có thể dẫn đến: “tâm hạ nghịch mãn, khí thượng xung hung, khởi tắc đầu huyễn… thân vi chấn chấn diêu” (vùng dưới tim đầy tức, khí xông lên ngực, đứng dậy thì chóng mặt… thân mình run rẩy đứng không vững). Linh quế truật cam thang là “vương bài” trong điều trị chứng chóng mặt do trung tiêu thủy ẩm thượng phạm thanh khiếu.
Linh quế truật cam thang trị “thủy tâm bệnh”
Danh sư Lưu Độ Chu đã sử dụng phương này rất thần kỳ để trị các bệnh tim do thủy khí lăng tâm, ông đặt tên là “thủy tâm bệnh”.
- Vọng sắc: Mặt đen sạm (thủy sắc). Bệnh nặng có đốm đen ở má, mũi, môi (thủy ban).
- Sát lưỡi: Lưỡi nhạt bệu, rêu nước trơn ướt.
- Thiết mạch: Mạch huyền, trầm hoặc kết đại.
- Biện chứng: Có triệu chứng thủy khí thượng xung (khí từ dưới tim xông lên họng); đau tức ngực; hồi hộp đánh trống ngực; đoản hơi.
Linh quế truật cam thang trị thủy khí đàm ẩm
Thủy khí, đàm ẩm có tính lưu động nên gây bệnh đa dạng ở tim mạch, tiêu hóa, hô hấp và ngũ quan.
- Bệnh “lạ” tim mạch: Một bệnh nhân mạch vành thường xuyên phun bọt trắng từ họng ra xa tới 1 mét, kèm buồn nôn, tay run. Lưu lão chẩn đoán là thủy khí lăng tâm, dùng Linh quế truật cam thang gia trạch tả, bán hạ, gừng tươi, 14 thang thì khỏi.
- Tiêu hóa: Đầy bụng, chán ăn, buồn nôn, ăn xong là muốn đi đại tiện ngay. Phương này bổ trung khí rất mạnh, giúp tăng miễn dịch.
- Hô hấp: Ho hen do đàm ẩm, đờm nhiều. Dùng phương này để kiện tỳ là “cắt đứt nguồn sinh đàm”.
- Ngũ quan: Dùng cho phù gai thị (có thể kết hợp với Nhân sâm, Cúc hoa, Kỷ tử, Xa tiền tử), tăng nhãn áp, viêm mũi dị ứng, chảy dịch mũi sau (kết hợp với Lý trung thang).
Gia giảm Linh quế truật cam thang
Khi dùng lâm sàng có thể tùy chứng gia giảm:
- Đàm nhiều mạch hoạt: Hợp với Nhị trần thang.
- Chóng mặt nặng: Gia trạch tả.
- Mặt nóng bừng: Gia bạch vi.
- Huyết áp cao: Gia hồng hoa, thiến thảo, ích mẫu, ngưu tất.
- Mạch kết đại: Bỏ bạch truật gia ngũ vị tử.
- Thấp đàm gây ho: Bỏ bạch truật gia ý dĩ.
- Hồi hộp lo sợ: Gia long cốt, mẫu lệ.
Với khả năng kiện tỳ hòa trung, Linh quế truật cam thang là giải pháp tối ưu cho các bệnh lý do thủy khí, đàm ẩm. Việc vận dụng linh hoạt các cấp độ hóa – lợi – trục thủy sẽ giúp bác sĩ đạt hiệu quả cao trong lâm sàng.