Quế chi thang – 桂枝汤

Quế chi thang – 桂枝汤 là danh phương nổi tiếng trị chứng Thái dương trúng phong của Trương Trọng Cảnh. Các y gia đời sau đã có những bước phát triển trong nhận thức về phương thuốc này, cho rằng đây là “phương thuốc điều hòa âm dương, triệt thượng triệt hạ (thông suốt trên dưới), có khả năng trị cả nội lẫn ngoại”, vượt xa phạm vi các ca bệnh mà Trọng Cảnh đã luận thuật ban đầu. Không chỉ trị bệnh kinh Thái dương, các tạp bệnh khác cũng có thể sử dụng. Cùng DUPOMA phân tích đôi nét cốt lõi của bài thuốc cùng các ứng dụng phổ biến của nó trên lâm sàng.

Nguồn gốc bài thuốc Quế chi thang

Quế chi thang là phương thuốc kinh điển, xuất hiện lần đầu ại điều thứ 12 trong 《伤寒论 – Thương hàn uận》 của Thánh Y – Trương Trọng Cảnh vào cuối thời Đông Hán.

Đây không chỉ là phương thuốc đầu tiên được ghi chép trong 《伤寒论 – Thương hàn luận》 mà còn được hậu thế tôn vinh là “Quần phương chi quán” (Đứng đầu các phương thuốc), giữ vai trò nền tảng trong hệ thống lý luận và điều trị của Trương Trọng Cảnh. Trong toàn bộ trước tác của ông, hơn 60% các phương thuốc đều được phát triển từ Quế chi thang thông qua gia giảm, cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của bài thuốc này.

Y gia đời Thanh là Từ Bân từng nói: “Quế chi thang, ngoại chứng đắc chi, giải cơ hòa doanh vệ; nội chứng đắc chi, hóa khí điều âm dương”. Ông cho rằng Quế chi thang là phương tễ bên ngoài hòa doanh vệ, bên trong điều âm dương, trị liệu cả trong lẫn ngoài.

《类经 – Loại kinh》 viết: “Thân người chẳng qua là biểu lý, biểu lý chẳng qua là âm dương, âm dương tức là doanh vệ, doanh vệ tức là huyết khí”. 《素问 – Tố vấn · Điều kinh luận》 viết: “Cái mà con người có, chỉ là huyết và khí mà thôi”. Ở ngoài là doanh vệ, ở trong là khí huyết, khí huyết doanh vệ vốn cùng một thể.

Trải qua các triều đại, giá trị của Quế chi thang ngày càng được khẳng định và mở rộng. Trong tác phẩm 《古今名醫方論 – Cổ kim danh y phương luận》, y gia Kha Tiết Bá đã suy tôn: “Phương này đứng đầu các phương của Trọng Cảnh, là phương số một để tư âm hòa dương, giải cơ phát hãn, điều hòa doanh vệ”.

Ngày nay, các nhà nghiên cứu Kinh phương đều thống nhất coi đây là “Đệ nhất phương” trong việc điều hòa âm dương và thiết lập lại trạng thái cân bằng nội tại cho cơ thể con người.

Phân tích vị thuốc trong Quế chi thang

Thành phần gồm:

  • Quế chi – 桂枝 (3 lạng, bỏ vỏ)
  • Bạch thược – 白芍 (3 lạng)
  • Chích Cam thảo – 甘草 (2 lạng)
  • Sinh khương – 生姜 (3 lạng, cắt lát)
  • Đại táo – 大枣 (12 quả, xé ra)

Quế chi thang được xem là “tổ phương” của kinh Túc Thái dương. Trong phép trị của Trương Trọng Cảnh, ông phân biệt rất rõ: Phát hãn (làm ra mồ hôi mạnh) là phép nặng, còn Giải cơ (làm lỏng cơ biểu để tà thoát ra) là phép nhẹ.

Đối với chứng Trúng phong, y gia không dùng đại hãn vì sẽ làm tổn thương doanh huyết. Dù có biểu tà, nhưng chỉ nên dùng phép giải cơ để điều hòa nhẹ nhàng. Nguyên tắc lập phương này tuân theo Kinh văn: “Phong tà quá thịnh thì dùng vị cay mát để bình, dùng vị đắng ngọt để hỗ trợ, dùng vị ngọt để làm hoãn, dùng vị chua để thu liễm.”

Phân tích quân thần tá sứ theo 《神农本草经 – Thần Nông bản thảo kinh》

  • Quân – Quế chi (Dương dược)
    • Tính vị: Vị cay, ngọt; tính phát tán thuộc Dương.
    • Vai trò: Quế chi giúp phát tán phong hàn ở biểu, khai thông dương khí. Có tác dụng giải cơ phát biểu, đi vào phần Vệ để xua tan phong hàn tà khí.
  • Thần – Bạch thược (Âm dược)
    • Tính vị: Vị chua, đắng; tính thu liễm và thông tiết thuộc Âm.
    • Vai trò: Bạch thược đi vào phần Doanh để liễm âm, dưỡng huyết, bù đắp phần Doanh âm đã mất. Phối hợp cùng Quế chi để thu liễm âm dịch, không cho âm khí bị tiết ra ngoài quá mức khi phát hãn.
  • Tá & Sứ – Sinh khương, Đại táo, Chích Cam thảo
    • Sinh khương: Vị cay, tính ấm. Có tác dụng tán hàn, hỗ trợ Quế chi trong việc phát tán biểu tà, đồng thời làm ấm Vị, chỉ ẩu (cầm nôn khan), giúp bình thiết Vị khí.
    • Đại táo: Vị ngọt, tính ấm. Có tác dụng bổ sung tân dịch cho dạ dày (vì theo quan niệm Đông y, mồ hôi xuất phát từ dịch của vị vị). Hỗ trợ Bạch thược dưỡng huyết, bổ trung. Sự kết hợp giữa Sinh khương và Đại táo giúp điều hòa tỳ vị, tăng cường nguồn sinh hóa khí huyết.
    • Chích Cam thảo: Vị ngọt, tính bình. Đóng vai trò điều hòa các vị thuốc, không để cho âm khí bị tiết ra ngoài.

Thành Vô Kỷ trong 《注解伤寒论 – Chú giải Thương hàn luận》nêu rõ:

《内经 – Nội kinh》 chép: “Tân cam phát tán vi dương” (Vị cay ngọt có tính phát tán thuộc về dương). Quế chi thang là tễ thuốc có vị cay ngọt, vì vậy dùng để phát tán phong tà.

Phong dâm thắng thế, dùng vị cay để bình, dùng vị đắng ngọt để làm tá, dùng vị ngọt để hoãn, dùng vị toan (chua) để thu. Bởi vậy lấy Quế chi làm chủ; Bạch thược, Cam thảo làm tá. Phong dâm ở bên trong, dùng vị ngọt để hoãn, dùng vị cay để tán. Bởi vậy lấy Sinh khương, Đại táo làm sứ vậy.

Phân tích nguyên tắc phối ngũ trong Quế chi thang

Quế chi thang không đơn thuần là một phương thuốc giải biểu, mà là một chỉnh thể hoàn hảo thể hiện tư duy điều hòa Âm Dương của Trương Trọng Cảnh.

Phát trung hữu bổ, tán trung hữu thu

Sự kết hợp giữa Quế chi và Bạch thược chính là linh hồn của bài thuốc.

  • Quế chi chủ về phát tán (chi tiền).
  • Bạch thược chủ về thu liễm và dưỡng huyết (kiếm tiền).

Trong bài này, Quế chi và Bạch thược thường được dùng với tỉ lệ 1:1 để đạt được sự cân bằng hoàn hảo giữa “Tán” (phát tán tà khí) và “Thu” (thu giữ chính khí). Nếu Dương hư thì tăng Quế chi, Âm hư thì tăng Bạch thược.

Việc phối ngũ này giúp cơ thể xua tan tà khí (khử tà) mà không làm tổn thương chính khí (phù chính). Nó giống như việc bạn chi tiêu nhưng luôn có nguồn thu nhập mới đổ vào túi, giúp ngân sách (năng lượng cơ thể) luôn ổn định. Đây là đặc điểm phối ngũ thứ nhất: Trong phát có bổ, trong tán có thu.

Âm Dương song bổ, điều hòa Doanh Vệ

Dựa trên lý luận hóa sinh của vị thuốc, bài thuốc tạo ra hai trục chuyển hóa quan trọng. Quế chi thang có hai dược đối có thể đứng độc lập thành phương tễ, đó là Quế chi cam thảo thang và Thược dược cam thảo thang.

  • Tân cam hóa Dương: Quế chi tính tân ôn, nhập huyết phận, có tác dụng ôn dương hóa khí, thông lợi huyết mạch. Hợp với Chích Cam thảo có tính cam hoãn bổ ích, tạo thành “tân cam hóa dương”, có khả năng chấn hưng tâm dương. Minh chứng như điều thứ 64 trong 《伤寒论 – Thương hàn luận》: “Phát hãn quá nhiều, người đó xoa tay tự ôm lấy vùng tim, dưới tim hồi hộp, muốn được ấn vào”, chính là dùng Quế chi cam thảo thang để ôn bổ tâm dương, điều trị chứng tâm dương bất túc, tâm trung quý động do ra mồ hôi quá nhiều. Tâm dương đủ, thúc đẩy huyết có lực mới có thể vận chuyển máu đến thể biểu và tứ chi mạt tiết.
  • Toan cam hóa Âm: Bạch thược tính hơi hàn, vị chua (toan), đắng (khổ). 《神农本草经 – Thần Nông bản thảo kinh》 ghi chép vị này “chủ tà khí phúc thống, trừ huyết tí, phá kiên tích”. Vị này cũng nhập huyết mạch, vừa có thể làm giãn sự căng thẳng của cơ trơn, vừa có thể làm giảm co thắt cơ xương. Nó hợp với Cam thảo tạo thành “toan cam hóa âm”, bổ sung âm dịch, giúp cho việc phát hãn của Quế chi thang có nguồn cung cấp. Thược dược cam thảo thang trên lâm sàng thường dùng để điều trị hội chứng chân không yên, chuột rút hoặc cơ bắp chi dưới co thắt đau đớn.
  • Hai vị thuốc còn lại trong phương, Sinh khương khai vị trợ Quế chi phát hãn, Đại táo dưỡng huyết sinh hóa hãn nguyên (nguồn tạo mồ hôi).

Chính nhờ sự tương tác này, bài thuốc đạt được mục đích Âm Dương song bổ, giúp thiết lập lại trạng thái cân bằng giữa Doanh và Vệ.

Điểm đặc biệt của Quế chi thang là không chỉ chuyên về phát tán mà còn nhằm mục đích hành tân dịch của Tỳ để điều hòa Doanh và Vệ.

Chính vì sự tinh diệu này mà Quế chi thang được tôn vinh là “Quần phương chi thủ” (đứng đầu các phương thuốc) của Trương Trọng Cảnh tiên sinh.

So sánh với Ma hoàng thang

Ma hoàng thang chuyên về phát tán mạnh nên không cần dùng đến Sinh khương, Đại táo mà tân dịch vẫn tự thông.

Quế chi thang dùng Sinh khương và Đại táo để vừa phát tán vừa nuôi dưỡng, giúp cơ thể lập lại trạng thái cân bằng một cách bền vững.

Phân tích biện chứng

Quế chi thang chủ trị chứng “ngoại cảm phong hàn biểu hư”.

Biện chứng biểu hư – biểu thực:

  • Sợ lạnh tuy thuộc Biểu, nhưng cũng có phân biệt hư thực:
  • Không mồ hôi mà sợ lạnh là Biểu thực, nên dùng phép phát hãn (như Ma hoàng thang).
  • Có mồ hôi mà sợ lạnh là Biểu hư, nên dùng phép giải cơ (như Quế chi thang).
  • Tỵ minh can ẩu là do phong ủng tắc khiến khí nghịch, nên mũi có tiếng kêu và gây nôn.

Vì đây là chứng Biểu hư, tuyệt đối không được dùng thuốc tân ôn đại tán (cay nóng phát hãn mạnh) để tránh làm ra mồ hôi quá nhiều gây thương tân (mất nước) và hao khí. Phương pháp điều trị ở đây phải là: Giải cơ phát biểu, điều hòa Doanh Vệ.

Trong cuốn 《医方集解 – Y phương tập giải》 của Uông Ngang, Quế chi thang chủ trị chứng Thái dương trúng phong. Bệnh cảnh của Quế chi thang chủ yếu là do “Phong tà” (gió). Vì phong tà có tính khai tiết (mở ra), nên biểu hiện lâm sàng không phải là “ố hàn” (sợ lạnh đơn thuần) mà là ố phong (sợ gió).

  • Phát nhiệt, đầu thống: Sốt và đau đầu (do phong tà thượng công).
  • Tự hãn: Tự ra mồ hôi (đặc điểm quan trọng nhất của biểu hư).
  • Ố phong, ố hàn: Sợ gió và sợ lạnh.
  • Tỵ minh, can ẩu: Mũi thở khò khè và nôn khan.
  • Mạch tượng: Mạch Phù hoãn. Trong đó, mạch Dương (bộ Quan trở trước) Phù, mạch Âm (bộ Quan trở sau) Nhược.

Kinh văn chép: “Phong dâm thắng thế, bình bằng vị cay mát, tá bằng vị đắng ngọt, lấy vị ngọt để hoãn, lấy vị toan để thu”. Quế chi tân cam phát tán vi dương; thần là Bạch thược vị toan để thu; tá là Cam thảo vị cam bình, không để âm khí bị thoát ra ngoài. Sinh khương tân ôn năng tán, giúp tán hàn chỉ ẩu (cầm nôn); Đại táo cam ôn năng hòa. Phương này không chuyên về phát tán, mà còn để vận hành tân dịch của Tỳ mà điều hòa doanh vệ vậy. Ma hoàng thang chuyên về phát tán, nên không dùng Sinh khương, Đại táo mà tân dịch vẫn được thông suốt.

《金匮方论衍义 – Kim quỹ phương luận diễn nghĩa》Triệu Lương Nhân cho rằng chứng Quyết âm bên trong có hư hàn nên hạ lợi (đi ngoài), trướng mãn; tà ở biểu chưa giải nên thân thể đau đớn; lúc này lấy hạ lợi làm trọng.

Việc “trị lý trước, trị biểu sau” cũng giống như trường hợp Thái dương chứng trong 《伤寒论 – Thương hàn luận》 bị thầy thuốc dùng phép hạ, dẫn đến hạ lợi thanh cốc không dứt, thân mình đau đớn, thì cấp thiết phải dùng Tứ nghịch thang để cứu lý; đợi khi đại tiện tự điều hòa, sau mới dùng Quế chi thang để cứu biểu, đều là cùng một loại quy tắc này.

Cơ chế cốt lõi của chứng bệnh này được khái quát qua cụm từ: “Vệ cường Doanh nhược”.

  • Vệ cường: Không phải chính khí mạnh, mà là tà khí phong hàn xâm nhập vào phần Vệ, khiến Vệ khí phải gồng mình ra ngoài để đấu tranh, gây ra hiện tượng Phát nhiệt.
  • Doanh nhược: Phong tà có tính khai tiết, làm sơ hở tấu lý (lỗ chân lông mở), khiến Doanh âm bên trong không giữ được mà thoát ra ngoài thành Tự hãn. Khi mồ hôi tự chảy, Doanh dịch bị hao tổn dẫn đến hư yếu.
  • Ố phong & Ố hàn: Do Vệ hư nên sợ gió (ố phong), Doanh hư nên sợ lạnh (ố hàn). Vì lỗ chân lông sơ hở nên người bệnh nhạy cảm với gió lạnh hơn bình thường.
  • Phát nhiệt: Bệnh nhân có triệu chứng phát sốt. Đây là dấu hiệu của chính khí đang đấu tranh với tà khí. Chính khí càng mạnh thì sốt càng cao, chính khí yếu thì sốt nhẹ hoặc không sốt.
  • Mạch tượng: Vì là biểu chứng nên mạch vẫn là mạch Phù, nhưng vì lỗ chân lông mở và có mồ hôi (biểu hư) nên mạch không còn “Khẩn” như trong Ma hoàng thang mà chuyển sang mạch Hoãn. Do đó, mạch đặc trưng là Phù hoãn.

Dụ Gia Ngôn nói: “Phong và hàn song hành, nghĩa trọng ở sợ gió (ố phong). Người sợ gió không ai là không sợ lạnh, vì vậy trong thương hàn cũng gọi lẫn là sợ gió. Người sau này bảo thương hàn sợ lạnh, thương phong sợ gió là sai lầm vậy!”.

Đến như bệnh Dương minh mạch trì, mồ hôi ra nhiều, hơi sợ lạnh, là do Biểu chưa giải, có thể dùng phép phát hãn. Mạch trì hãn đa thuộc về chứng Dương minh, nhưng vì còn hơi sợ lạnh nên vẫn kiêm chứng Thái dương, vẫn phải theo phép giải cơ ở ngoài để cắt đứt đường tà nhập vào vị phủ.

Trong 《伤寒论 – Thương hàn luận》, Trương Trọng Cảnh tiên sinh có nói rằng nếu bệnh nhân đã bị cảm, nhưng tình trạng chưa khỏi, lúc này nếu tiếp tục dùng Ma hoàng thang để phát hãn (ra mồ hôi) quá mạnh thì không phù hợp. Vì vậy, ta chuyển sang dùng Quế chi thang.

Các triệu chứng kèm theo

  • Phế khí thất tuyên: Phong hàn xâm nhập ảnh hưởng đến chức năng tuyên phát, túc giáng của Phế. Tuy nhiên, so với Ma hoàng thang, mức độ này nhẹ hơn nên bệnh nhân không ho, không suyễn mà thường có triệu chứng tị minh (mũi khụt khịt, ngạt mũi).
  • Vị khí bất hòa: Phong hàn ảnh hưởng đến Vị (dạ dày), làm Vị khí nghịch lên gây ra cảm giác không muốn ăn, thậm chí là can ẩu (nôn khan).

Một lý một biểu, một âm một dương, nên gọi là “Hòa”. Ăn thêm cháo nóng để làm mạnh vệ dương ở bên trong, trợ lực cho thuốc, hành vệ khí để giải nhiệt uất ở tấu lý, nên gọi là “Giải cơ”. Tà chưa vào doanh mà đã dùng Bạch thược là để hòa dương giải cơ, e rằng làm động doanh mà phát hãn thì bệnh lại chẳng trừ được. Xem phương này đủ để quán thông toàn bộ phương pháp, biến hóa từ tâm, nếu không phải bậc Thánh như Trọng Cảnh thì khó ai làm nổi

Cách dùng

Cách sắc thuốc

Cách bạn sắc thuốc quyết định hiệu quả điều trị:

Sắc hỏa lớn (Vũ hỏa): Sắc nhanh (15-25 phút) để lấy “Khí” của thuốc. Dùng khi muốn thuốc phát tán ra ngoài lỗ chân lông (phát biểu). Toàn bộ quá trình phải dùng lửa lớn để thuốc có tính chất nhanh mạnh.

Sắc hỏa nhỏ (Văn hỏa): Sắc chậm, cô đặc để lấy “Chất” (nước cốt đậm đặc). Dùng cho các phương thuốc công hạ (như Thừa khí thang) để thuốc nặng và dày, đánh xuống hạ tiêu.

Với 9 bát nước sắc còn 3 bát, bỏ bã. Chia làm 3 lần uống, mỗi lần 1 bát.

Cách uống

Uống nóng. Một lát sau húp cháo nóng loãng để trợ giúp dược lực, dưỡng Vị khí, hỗ trợ sinh phát dương khí và thúc đẩy việc hấp thu dược chất.

Đắp chăn ấm cho ra mồ hôi râm rấp (vi tự hãn), không được để mồ hôi chảy đầm đìa như nước vì sẽ làm tổn thương tân dịch dẫn đến các biến chứng khác.

Mồ hôi ra bệnh đỡ thì thôi không uống nữa. Nếu uống hết một tễ mà bệnh chứng vẫn còn thì lại làm tiếp để uống.

Nếu uống bát đầu tiên đã ra mồ hôi và thấy khỏe lại thì thôi, không cần uống phần còn lại.

Nếu chưa ra mồ hôi, cách 3-4 tiếng sau uống tiếp một bát, cho đến khi ra mồ hôi râm rấp thì thôi.

Kiêng kỵ: Tuyệt đối không được thổi gió hoặc sưởi lửa ngay sau khi ra mồ hôi. Không ăn đồ sống lạnh, đồ dính (đồ nếp), thịt, ngũ vị tân (hành, tỏi…), rượu, đồ muối chua, đậu phụ thối… vì những thứ này dễ gây hại cho bệnh tình. Nếu bình thường bụng có thấp nhiệt nặng, cho Táo đỏ thấy ngọt ngấy thì có thể bỏ Táo đỏ.

Tiêu chuẩn khỏi bệnh: Sáng hôm sau thấy tỉnh táo, hết sợ gió, và quan trọng nhất là vị khí khai (thấy đói và muốn ăn).

Ứng dụng bài thuốc Quế chi thang

Chủ chứng của Quế chi thang là cảm mạo phong hàn biểu hư, bệnh  Chúng ta đã biết Thái dương bệnh có ba loại: Trung phong, Thương hàn và Ôn bệnh. Ở điều này, Trọng Cảnh tiên sinh mô tả đặc điểm của Trung phong:

  • Dương phù nhi Âm nhược: Mạch bộ Thốn (Dương) phù lộ ra ngoài, nhưng mạch bộ Xích (Âm) khi ấn xuống lại trầm và nhỏ yếu.
  • Dương phù giả nhiệt tự phát: Mạch Dương phù biểu thị nhiệt năng phát tán ra biểu.
  • Âm nhược giả hãn tự xuất: Mạch Âm nhược biểu thị doanh huyết bên trong không giữ được, dẫn đến mồ hôi tự chảy ra.
  • Triệu chứng đi kèm: Sợ lạnh ngắt quãng (sắt sắt ố hàn), sợ gió (tế tế ố phong), phát sốt nhẹ không liên tục, mũi thở khò khè hoặc chảy nước mũi.

Tuy nhiên không nhất thiết phải có đầy đủ tất cả các triệu chứng ngoại cảm (phát nhiệt, ố phong, tự hãn, tị minh, can ẩu) mới được dùng bài này. Tính ứng dụng của bài thuốc đang được các y gia đời sau mở rộng hơn rất nhiều so với phạm vi gốc ban đầu. Ứng dụng mở rộng ngoài cảm mạo

  • Nội khoa:
    • Ngô Tiềm trong 《医宗金鉴 – Y tông kim giám》 phân biệt rõ bệnh cơ giữa ôn bệnh và thương hàn, luận thuật điều kiện dùng Quế chi thang trị phong ôn.
    • Ngô Cúc Thông trong 《温病条辨 – Ôn bệnh điều biện》 chỉ ra ngoài việc trị thương hàn các kinh, còn dùng phương này trị Thái âm phong ôn, thu táo, hàn thấp hoắc loạn, và giai đoạn hồi phục sau ôn bệnh.
    • Lâm Bội Cầm trong 《类证治裁 – Loại chứng trị tài》 dùng trị uốn ván.
    • Phí Bá Hùng trong 《医醇賸义 – Y thuần thặng nghĩa》 dùng gia giảm trị trúng phong, cơ nhục tê bại, tay chân tê mỏi.
    • Trương Tích Thuần trong 《医学衷中参西录 – Y học trung trung tham tây lục》 cải chế thành Gia vị quế chi đại chúc thang, giúp phát hãn hiệu quả mà không cần húp cháo.
    • Tào Dĩnh Phủ chỉ ra: “Ngoại chứng trị Thái dương, nội chứng trị Thái âm”.
  • Phụ khoa:
    • Diệp Thiên Sĩ trong 《临证指南医案 – Lâm chứng chỉ nam y án》 dùng Quế chi thang gia Đương quy trị sản hậu ngoại cảm hàn nhiệt mình đau.
    • Tào Dĩnh Phủ trong 《经方实验录 – Kinh phương thực nghiệm lục》 dùng điều kinh, trị phụ nữ tỳ hư khí uất và kinh nguyệt đến muộn.
  • Nhi khoa:
    • Ngô Tiềm dùng trị tiểu nhi biểu hư tự hãn.
    • Ngô Cúc Thông dùng trị tiểu nhi nhu kinh (co giật thể nhu).
    • Phí Bá Hùng dùng trị động kinh ở trẻ nhỏ.
  • Thương khoa (Chấn thương chỉnh hình):
    • 《经方实验 lục – Kinh phương thực nghiệm lục》 dùng trị Thái dương não thư (nhọt vùng gáy).
    • Trịnh Khâm An trong 《医法圆通 – Y pháp viên thông》 dùng trị đau bụng ngực và đau lưng, sang dương sau não và đau gót chân.
    • Triệu Liêm trong 《伤科大成 – Thương khoa đại thành》 dùng trị trật khớp vai và cổ tay; sau khi nắn chỉnh thủ công thì cho uống Quế chi thang gia giảm để đẩy nhanh quá trình phục hồi.

Một số ứng dụng khác:

  • Phòng ngừa cảm mạo: Một trong những tác dụng cốt lõi của Quế chi thang là giải biểu tán hàn, đặc biệt thích hợp dùng trong mùa cao điểm của cúm. Quế chi chứa lượng tinh dầu phong phú, có khả năng ức chế hoạt tính của virus cúm, giảm tỷ lệ phát bệnh. Ở giai đoạn đầu cảm mạo hoặc khi bị nhiễm lạnh, dùng Quế chi thang lượng vừa đủ có thể làm giảm triệu chứng, giúp cơ thể phục hồi nhanh chóng.
  • Sốt nhẹ không rõ nguyên nhân (Đê nhiệt): Các trường hợp sốt âm ỉ kéo dài (37°C – 38°C), cứ ra mồ hôi thì đỡ nhưng sau đó lại sốt lại.
  • Sốt sau sinh: Phụ nữ sau khi sinh bị sốt nhẹ do hao tổn doanh huyết và vệ khí.
  • Sốt sau bệnh nặng: Cơ thể suy nhược, Doanh Vệ chưa điều hòa.
  • Trị liệu cước khí (Sưng tấy do lạnh): Dùng Quế chi thang uống trong và dùng nước thuốc nóng ngâm rửa ngoài (lưu ý không ngâm khi vết thương đã hoại tử, thối loét).
  • Mề đay (Tầm ma chẩn): Đặc biệt hiệu quả với các trường hợp mề đay tái phát nhiều lần do Doanh Vệ bất hòa.
  • Ra mồ hôi cục bộ: Chỉ ra mồ hôi ở nửa người, ở lưng hoặc ở đầu.
  • Hen phế quản: Đông y cho rằng hen phế quản thuộc phạm vi chứng “Hào bệnh” (hen suyễn). “Khí dương hư nhược, vệ khí bất túc” là nội nhân quan trọng dẫn đến phát tác hen suyễn. Trong điều trị giai đoạn ổn định, Đông y có những ưu thế mà Tây y khó có thể so sánh được, do đó cần coi trọng việc điều trị hen suyễn giai đoạn ổn định bằng Đông dược. Quế chi thang dùng phép “Tân cam hóa dương” để trợ Vệ, chấn hưng vệ khí, khu tà ra ngoài; thông qua điều hòa doanh vệ để hòa khí huyết âm dương, từ đó đạt được mục đích dự phòng hen suyễn tái phát. Vì vậy, Quế chi thang có thể dùng để điều trị hen suyễn giai đoạn ổn định. Dựa trên nhận thức về bệnh cơ của Đông y đối với hen phế quản, đề xuất việc dùng Quế chi thang trị liệu giai đoạn ổn định có thể mang lại hiệu quả tốt, giúp Đông y có thêm hỗ trợ nghiên cứu trong việc nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân hen phế quản
  • Hạ huyết áp: Quế chi thang không chỉ giải biểu tán hàn mà còn thông qua việc giãn mạch máu để làm hạ huyết áp. Tinh dầu trong Quế chi có thể thúc đẩy lưu thông máu. Đối với bệnh nhân cao áp huyết, kiên trì dùng lượng vừa đủ sẽ hỗ trợ điều tiết huyết áp và cải thiện tuần hoàn máu.
  • Kháng viêm, kháng virus: Tinh dầu trong Quế chi không chỉ kháng khuẩn mà còn có hiệu quả kháng virus. Nó có thể ức chế hoạt tính của trực khuẩn đại tràng, phế cầu khuẩn và tiêu diệt nhiều loại virus. Quế chi thang giúp nâng cao khả năng kháng viêm và kháng virus của cơ thể, đặc biệt thích hợp dùng trong những mùa có nguy cơ nhiễm trùng cao.
  • Lợi tiểu: Quế chi thang có công năng lợi niệu bài độc, thông qua việc tăng cường chuyển hóa của thận để giúp cơ thể đào thải độc tố và nước dư thừa. Với những người bị phù thũng hoặc tiểu tiện bất lợi, bài thuốc này có thể giảm nhẹ triệu chứng một cách hiệu quả.

Các phương pháp gia giảm

  • Bàng An Thời nói: Nếu không mồ hôi, tiểu tiện nhiều, hoặc tay chân nghịch lạnh, thân thể lạnh mà không sợ lạnh, trái lại sợ nhiệt thì thận trọng không được dùng. Lại nữa, tự hãn mà tiểu tiện nhiều cũng không được uống. Tự hãn là dương hư, tiểu nhiều là hạ tiêu hư hàn. Lúc đầu bệnh mà biểu lý đều hư, bệnh không ở biểu, nếu uống phương này gây trọng hãn (ra mồ hôi thêm) sẽ làm kiệt tân dịch, gọi là “hư hư” (làm hư thêm chỗ đã hư).
  • Kinh văn chép: Mạch phù khẩn, phát nhiệt, không mồ hôi thì không được cho dùng (vì mạch khẩn là thương hàn, dùng phương này thì biểu càng thực mà mồ hôi càng khó ra).
  • Thương hàn lệ chép: Quế chi hạ yết, dương thịnh tắc tý; Thừa khí nhập vị, âm thịnh tắc vong (Uống Quế chi khi dương thịnh thì chết; dùng Thừa khí khi âm thịnh thì mất).
  • Chu Dương Tuấn nói: Phong đã thương Vệ thì Vệ khí thưa hở, không thể bảo vệ bên trong cho Doanh, nên mồ hôi tự chảy. Mồ hôi là dịch của huyết. Nếu không dùng thuốc vào phần huyết, lấy Quế chi hòa doanh tán tà, lấy Bạch thược hộ doanh cố lý, thì chẳng những ngoại tà không ra mà còn nhập vào trong gây họa. Biết hòa doanh thì ngoại tà tự ra, tà ra thì Vệ tự kín, không cần dùng thuốc cố biểu mà mồ hôi tự cầm.
  • Trương Trọng Cảnh nói: Người thường xuyên tự ra mồ hôi là do doanh khí hòa, nhưng ngoại không hài hòa (vệ khí không hài hòa với doanh khí). Doanh hành trong mạch, Vệ hành ngoài mạch. Dùng phép phát hãn này để doanh vệ hòa thì khỏi, nên dùng Quế chi thang.
  • Lý Đông Viên nói: Trọng Cảnh trị biểu hư lập ra phương này, dùng Quế chi làm Quân. Quế chi tân nhiệt phát tán, thể nhẹ trợ dương; Bạch thược, Chích Cam thảo làm tá. Nếu trong bụng đau cấp, lại lập ra Tiểu kiến trung thang, lấy Bạch thược làm Quân vì Bạch thược toan hàn chủ thu bổ trung; Quế chi, Chích Cam thảo làm tá. Một đằng trị biểu hư, một đằng trị lý hư.
    Lại nói: Thay Quế chi bằng Nhục quế là thần dược trị cảm hàn phúc thống. Nếu trúng nhiệt phúc thống thì bỏ Quế gia Hoàng cầm.

Một số phương tễ gia giảm từ Quế chi thang

  • Quế chi cam thảo thang (Trọng Cảnh): Bỏ Bạch thược, Sinh khương. Trị phát hãn quá nhiều, bệnh nhân xoa tay lên ngực (xoa tim), dưới tim hồi hộp muốn được ấn vào.
  • Quế chi gia Phụ tử thang (Trọng Cảnh): Thêm Phụ tử. Trị Thái dương bệnh phát hãn xong mồ hôi chảy rỉ rả không ngừng, sợ gió, tiểu tiện khó, tứ chi hơi co quắp.
  • Quế chi phụ tử thang (Trọng Cảnh): Bỏ Bạch thược, thêm Phụ tử. Trị thương hàn 8-9 ngày, phong thấp tương bác, thân thể đau phiền, không thể xoay trở, không nôn không khát, mạch phù hư mà sáp.
  • Quế chi tân gia thang (Trọng Cảnh): Thêm Bạch thược, Sinh khương (mỗi loại 1 lạng), Nhân sâm (3 lạng). Trị thương hàn sau khi ra mồ hôi thân thể đau, mạch trầm trì.
  • Quế chi gia Bạch thược thang (Trọng Cảnh): Giảm một nửa Chích Cam thảo, gấp đôi lượng Bạch thược. Trị Thái dương lầm dùng phép hạ gây đau bụng, thuộc về chứng Thái âm.
  • Quế chi gia Đại hoàng thang (Trọng Cảnh): Phương này dùng trị đau bụng dữ dội thuộc thực chứng (thực thống). Đại hoàng là vị thuốc thông tiện, có hiệu quả bài độc, tả hạ, giúp thông suốt vị tràng, giảm đau bụng do thực nhiệt.
  • Quế chi khứ Quế gia Phục linh Bạch truật thang (Trọng Cảnh): Bỏ Quế chi, thêm Phục linh, Bạch truật. Trị uống Quế chi thang hoặc dùng phép hạ mà đầu hạng (đầu cổ) vẫn cứng đau, phát sốt không mồ hôi, tâm hạ đầy hơi hơi đau, tiểu tiện không lợi.
  • Quế chi gia Hậu phác Hạnh nhân thang (Trọng Cảnh): Thêm Hậu phác, Hạnh nhân. Trị Thái dương bệnh dùng phép hạ bị suyễn nhẹ, biểu chưa giải. (Biểu hư kèn ho suyễn)
  • Phục linh Quế chi Cam thảo Đại táo thang (Trọng Cảnh): Bỏ Bạch thược, Sinh khương, thêm Phục linh, sắc bằng nước Cam lân (nước khuấy động mạnh). Trị sau khi ra mồ hôi dưới rốn hồi hộp, muốn phát chứng bôn đồn.
  • Quế ma các bán thang (Trọng Cảnh): Hợp với Ma hoàng thang. Trị chứng Thái dương như dạng sốt rét, nhiệt nhiều hàn ít.
  • Quế chi nhị Ma hoàng nhất thang (Trọng Cảnh): 2 phần Quế chi thang hợp 1 phần Ma hoàng thang. Trị Thái dương bệnh đã đại hãn, hình như sốt rét, ngày phát 2 lần.
  • Quế chi nhị Việt tỳ nhất thang (Trọng Cảnh): 2 phần Quế chi thang hợp 1 phần Việt tỳ thang. Trị Thái dương bệnh phát nhiệt ố hàn, nhiệt nhiều hàn ít, mạch vi nhược.
  • Tiểu kiến trung thang (Trọng Cảnh): Gấp đôi lượng Bạch thược, thêm Di đường. (Thêm Hoàng kỳ gọi là Hoàng kỳ kiến trung thang). Phương này lấy việc điều hòa thể chất suy nhược, giảm đau bụng do khí huyết bất túc làm công năng chính, đặc biệt thích hợp cho người thể hư lâu ngày bị đau bụng.
  • Quế chi gia Hoàng kỳ thang (Kim quỹ): Bỏ Di đường từ Hoàng kỳ kiến trung thang. Trị hoàng hãn (mồ hôi vàng), phát nhiệt, hai ống chân lạnh, thân đau mình nặng.
  • Đương quy kiến trung thang (Thiên kim): Tiểu kiến trung thang thêm Đương quy. Trị phụ nữ sau sinh hư gầy bất túc, bụng đau lan ra thắt lưng lưng, bụng dưới co cấp.
  • Quế chi ngũ vật thang (Kim quỹ): Bỏ Chích Cam thảo, thêm Hoàng kỳ (3 lạng). Trị huyết tí, thân thể tê dại không biết gì.
  • Quát lâu Quế chi thang (Kim quỹ): Thêm Quát lâu căn. Trị chứng Thái dương đủ cả, nhưng mình cứng đờ (kiên kỷ kỷ), mạch phản trầm trì, đây là chứng kinh (uốn ván/co giật).
  • Quế chi gia Long cốt Mẫu lệ thang (Kim quỹ): Thêm Long cốt, Mẫu lệ. Trị nam tử thất tinh, nữ tử mộng giao.
  • Cát căn thang: Phương này gia thêm Cát căn, Ma hoàng. Dùng để điều trị chứng “Cương kinh” không có mồ hôi.
  • Quế chi gia Cát căn thang: (Thêm Cát căn) Trị biểu hư kèm đau cứng vùng gáy cổ. chủ yếu dùng để giảm tình trạng cứng đơ vùng cổ vai, đặc biệt là chứng “Nhu kinh” có kèm ra mồ hôi
  • Quế chi gia Thược dược thang: (Tăng liều Bạch thược từ 9g lên 15g) Không còn giải biểu nữa mà chuyển sang ôn trung, hoãn cấp chỉ thống. Trị đau bụng, đi ngoài do tỳ hư can thừa (gan khắc lách).
  • Quế chi gia Quế thang: (Tăng liều Quế chi gấp đôi) Trị chứng “Bôn đồn” (khí từ bụng dưới xông thẳng lên tim) do hãn quá nhiều làm tổn thương Tâm dương.
  • Gia vị Quế chi thang hiệu quả trong điều trị viêm khớp dạng thấp giai đoạn đầu

Tuy dược chất chính trong phương giống nhau nhưng bệnh chứng chủ trị lại khác nhau, từ đó có thể biết Quế chi thang không phải là phương chỉ trị một loại bệnh, mà là một phương có thể trị nhiều loại bệnh. Tác dụng của nó không đơn nhất mà mang tính đa diện. Nếu phối hợp với các dược vật khác, hoặc thay đổi liều lượng, tác dụng của nó sẽ được mở rộng, không chỉ giới hạn ở bệnh ngoại cảm mà còn điều trị rộng rãi các chứng bệnh kỳ nan tạp trị thuộc nội khoa, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa…

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chỉ mục