Quế chi thang trị Tý chứng

Tý chứng đa phần do ngoại cảm mà thành, cộng thêm tố thể (thể chất vốn có) hư nhược hoặc trong thân thể có ứ huyết, thường là trong ngoài ảnh hưởng lẫn nhau mà sinh bệnh. Thông qua tra cứu cổ tịch, văn hiến kết hợp quan sát lâm sàng, Quế chi thang và các phương tễ diễn hóa của nó được ứng dụng rộng rãi trong điều trị Tý chứng, biến hóa vô cùng. DUPOMA cùng bạn đọc tìm hiểu một công dụng nổi tiếng của Quế chi thang trong điều trị các chứng bệnh cơ xương khớp.

Tý chứng là gì?

《医林改错 – Y lâm cải thác · Tý chứng hữu ứ huyết thuyết》 viết: “Phàm kiên thống (đau vai), tý thống (đau cánh tay), yêu thống (đau thắt lưng), thoái thống (đau chân), hoặc chu thân thống (đau toàn thân), tổng danh viết Tý chứng”.

Tý chứng là bệnh chứng chỉ tình trạng đau nhức các khớp xương và chi thể, phạm vi liên quan đến nhiều mặt bệnh như: thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, viêm khớp dạng thấp, hội chứng ống cổ tay, thoái hóa khớp gối, Gout (Thống phong)… đều có thể quy nạp vào loại này.

Tý chứng có đặc trưng là gây ra cảm giác thân thể nặng nề, khốn quyện (mệt mỏi), chướng thống (đau căng tức), tê dại, thậm chí là biến dạng khớp. Nếu bệnh lâu ngày không khỏi, bệnh tà có thể từ ngoài vào trong, xâm nhập vào tạng phủ, hình thành các chứng “Ngũ tạng tý”, “Lục phủ tý”…

Tý chứng gây ra sự dày vò cực lớn đối với sức khỏe thân tâm của người bệnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc và sinh hoạt hàng ngày. 

Quế chi thang điều trị Tý chứng

Bản chứng của Quế chi thang chính là chứng Thái dương trúng phong, Thái dương biểu hư. Tổng hợp các nguyên văn trong 《伤寒论 – Thương hàn luận》 như: “Thái dương bệnh, phát nhiệt, hãn xuất, ố phong, mạch hoãn giả, danh vi trúng phong”, có thể thấy chứng Quế chi thang bắt buộc phải hội đủ các triệu chứng chính (chủ chứng) như phát sốt, sợ gió lạnh, tự ra mồ hôi, mạch phù nhược hoặc hoãn. Thái dương chủ biểu, là phiên dậu (hàng rào) của thân người, thống lĩnh sáu kinh và cai quản doanh vệ. Bình thường thể chất hư nhược, vệ khí không đủ để chống đỡ hoàn toàn tà khí tại da lông huyền phủ (như chứng Thái dương thương hàn), phong hàn chi tà khách tại cơ biểu, vệ khí kháng cự với tà, vệ dương bị ngăn trở. Vệ khí vốn tương đối hư nhược không thể phát huy công năng “ôn phân nhục, tư khai hợp” (sưởi ấm cơ bắp, cai quản đóng mở lỗ chân lông), biểu hư không kiên cố, huyền phủ không đóng kín dẫn đến doanh vệ bất hòa, xuất hiện nhóm triệu chứng phát sốt tự ra mồ hôi, sợ gió, mạch phù hoãn.

Trong Quế chi thang:

  • Quế chi hợp Cam thảo (tân cam) thuộc Dương.
  • Bạch thược hợp Cam thảo (toan cam) hóa Âm.
  • Sinh khương trợ Vệ khí.
  • Đại táo hóa âm huyết.

Các vị hợp dùng khiến doanh huyết đầy đủ, vệ dương mạnh mẽ, cùng phát huy công hiệu điều hòa doanh vệ, giải cơ phát biểu, khiến tà khí theo mồ hôi mà giải. Đúng như lời Hưu Tại Kính nói: “Khởi chính hãn dĩ thắng tà hãn” (Dậy mồ hôi chính để thắng mồ hôi tà). Trong Quế chi thang, các vị Quế chi, Bạch thược, Đại táo đều nhập huyết phận, thông qua hoạt huyết bổ huyết để khu trừ phong hàn tà khí ở thể biểu, tương ứng với ý nghĩa “khu phong tiên hoạt huyết, huyết hành phong tự diệt” (trị phong trước hết phải trị huyết, huyết thông suốt thì phong tự hết). Tổ hợp phương Quế chi thang có đặc điểm hàn ôn cùng dùng, công bổ kiêm thi, hoạt huyết khu phong, do đó cũng có thể điều trị các chứng Tý có bệnh cảnh phức tạp.

Vận dụng Quế chi thang

Trong 《素问 – Tố vấn · Tý luận》 có viết: “Phong hàn thấp tam khí tạp chí, hợp nhi vi tý dã” (Ba thứ khí phong, hàn, thấp cùng đến, hợp lại mà thành chứng tý). “Vinh giả, thủy cốc chi tinh khí dã… Vệ giả, thủy cốc chi hạn khí dã… Bất dữ phong hàn thấp khí hợp, cố bất vi tý” (Doanh là tinh khí của thủy cốc… Vệ là hạn khí của thủy cốc… Nếu không hợp với khí phong hàn thấp thì không thành chứng tý).

Cổ nhân cho rằng ba loại tà khí phong, hàn, thấp liên kết lại, thừa lúc chính khí cơ thể suy khuyết mà xâm nhập, làm ảnh hưởng đến sự tuần hoàn phân bố của khí Doanh Vệ mà thành Tý chứng. Phong, hàn, thấp là ngoại nhân; hư và ứ là nội nhân. Tý chứng lâu ngày, vệ khí bị uất lại hóa nhiệt, thường hình thành trạng thái hàn nhiệt thác tạp.

Dựa trên lý luận Doanh Vệ, các điểm yếu chốt trong điều trị Tý chứng là:

  • Ôn thông huyết mạch: Để tán hàn khu thấp.
  • Tư bổ âm huyết: Để việc phát hãn có nguồn cung cấp (hãn hữu nguyên).
  • Bình cân hàn nhiệt: Công bổ kiêm thi.

Tư duy lập phương của Quế chi thang bao hàm các phép hoạt huyết khu phong, hàn ôn tịnh dụng, công bổ kiêm thi, là phương thuốc tốt để trị Tý chứng. 

Quế chi gia Cát căn thang

Là Quế chi thang gia thêm Cát căn (4 lạng), dùng để giải chứng Thái dương trúng phong kiêm đau cứng cổ gáy.

《神农本草经 – Thần Nông bản thảo kinh》 nói Cát căn “chủ tiêu khát, thân đại nhiệt, chư tý, giải cơ phát biểu”. Phương này có tác dụng thư cân hoạt lạc, khu phong chỉ thống, ôn dương tán hàn, thường dùng trị thoái hóa đốt sống cổ thể cổ (Cervical Spondylosis) với biểu hiện vùng gáy lưng căng cứng, cơ bắp co cứng.

Hoàng kỳ quế chi ngũ vật thang

Gồm Quế chi thang khử Cam thảo, tăng gấp đôi lượng Sinh khương, gia Hoàng kỳ. Phương này lấy Hoàng kỳ làm Quân để bổ khí huyết, cố biểu khí; bỏ tính hoãn của Cam thảo, tăng tính tán của Sinh khương để phòng khí huyết ngưng trệ.

Công dụng là bổ khí hành huyết, ôn dương thông tý. Nguyên phương dùng trị “Huyết tý” (tê do huyết hư) – loại bệnh do khí huyết tại thể biểu bất túc, cân mạch mất nuôi dưỡng gây sợ gió lạnh nhẹ, cơ nhục tê dại không biết gì hoặc đau mỏi co thắt. Lâm sàng dùng giảm tê nhức tay, tê bì da trong hội chứng ống cổ tay hoặc thoái hóa cột sống cổ thể rễ thần kinh.

Quế chi phụ tử thang

Là Quế chi thang khử Bạch thược gia Phụ tử. Dùng Phụ tử để chấn hưng dương khí, tán hàn trừ thấp.

Trong 《伤寒论 – Thương hàn luận》, phương này trị Thái dương bệnh phát hãn quá mức dẫn đến dương khí thể biểu suy khuyết, hàn thấp uất bế kinh lạc gây đau nhức mình mẩy, đau xương khớp, co duỗi khó khăn. Đây là phương thường dùng cho chứng “Hàn thấp tý” như viêm khớp do thoái hóa, thoát vị đĩa đệm lưng.

Đương quy tứ nghịch thang

Gồm Quế chi thang khử Sinh khương, tăng gấp đôi lượng Đại táo, gia Đương quy, Thông thảo, Tế tân.

Trị chứng hàn ngưng huyết trệ, lạc mạch không thông khiến khí huyết không thể hành tán ra ngoài dẫn đến tay chân quyết lạnh, mạch vi muốn tuyệt.

Phương này tăng cường hoạt huyết thông lạc, thúc đẩy tuần hoàn máu ở đầu chi, thường dùng trị viêm khớp dạng thấp hoặc các bệnh lý đầu chi sau phẫu thuật nối ngón tay.

Quế chi thược dược tri mẫu thang

Là Quế chi thang khử Đại táo gia Ma hoàng (2 lạng), Sinh khương (2 lạng), Bạch truật (5 lạng), Tri mẫu (4 lạng), Phòng phong (4 lạng), Phụ tử (2 quả).

Trị chứng phong thấp hóa nhiệt với biểu hiện thân hình tiêu sấu (gầy rộc), khớp biến dạng, chân sưng đau hoặc phiền táo nôn nao chóng mặt. Thường dùng trị viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, Gout (Thống phong).

Ô đầu quế chi thang

Trích từ 《备急千金要方 – Bị cấp thiên kim yếu phương》 của Tôn Tư Mạo. Phương này lấy Ô đầu sắc với mật ong (mật tiễn), bỏ bã rồi hợp với Quế chi thang. Ô đầu là vị thuốc độc tính tân ôn phá kết, sau khi sắc với mật trắng (bạch mật) độc tính giảm mạnh. Hợp dùng giúp trục hàn chỉ thống, trợ dương hóa khí, trị chứng “Hàn tý” với biểu hiện thân thể nghịch lạnh, cơ nhục tê dại, đau nhức toàn thân.

Quế chi thang không chỉ là “tổ phương” của riêng bệnh ngoại cảm, mà còn là chìa khóa vàng trong điều trị các chứng Tí (đau nhức, tê bì) phức tạp. Nhờ sự kết hợp tinh tế giữa ôn thông và tư dưỡng, bài thuốc cùng các phương tễ diễn hóa giúp điều hòa doanh vệ, khôi phục cân bằng âm dương và giải quyết tận gốc căn nguyên bệnh lý. Việc vận dụng linh hoạt những tinh hoa này không chỉ mang lại hiệu quả vượt trội trong điều trị các bệnh cơ xương khớp hiện đại mà còn minh chứng cho giá trị trường tồn của y học cổ truyền qua hàng nghìn năm.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chỉ mục