Quế chi thang trong Kim quỹ yếu lược

Quế chi thang vốn là phương tễ cốt lõi của 《伤寒论 – Thương hàn luận》, với hiệu năng điều hòa doanh vệ, giải cơ phát biểu, được ứng dụng rộng rãi trong điều trị chứng ngoại cảm phong hàn biểu hư. Tuy nhiên, trong 《金匮要略 – Kim quỹ yếu lược》, Trương Trọng Cảnh đã mở rộng hơn nữa phạm vi ứng dụng của Quế chi thang, dùng phương này để điều trị các tạp bệnh như hư lao, hãn chứng (chứng ra mồ hôi), phụ khoa… làm nổi bật hiệu dụng độc đáo của Quế chi thang trong việc điều hòa âm dương, ôn dương hóa khí. Sự mở rộng này không chỉ làm phong phú nội hàm lý luận của Quế chi thang mà còn cung cấp chỉ đạo lâm sàng quan trọng cho các y gia đời sau.

Quế chi thang trong 《金匮要略 – Kim quỹ yếu lược》

Trong 《金匮要略 – Kim quỹ yếu lược》, Quế chi thang được ứng dụng rất nhiều. Ví dụ:

  • Bệnh hư lao: Trong chương “Huyết tí hư lao bệnh mạch chứng tịnh trị đệ lục” có ghi chép: “Hư lao lý cấp, quý, nục, phúc trung thống, mộng thất tinh, tứ chi toan thống, thủ túc phiền nhiệt, yên can khẩu táo, Tiểu kiến trung thang chủ chi.”
  • Hãn chứng: Trong chương “Thủy khí bệnh mạch chứng tịnh trị đệ thập tứ” có nhắc đến: “Mục nhuận tức hung trung thống, hựu tòng yêu dĩ thượng tất hãn xuất, hạ vô hãn, yêu khương trì thống, như hữu vật tại bì trung trạng, kịch giả bất năng thực, thân thống trọng, phiền táo, tiểu tiện bất lợi, thử vi hoàng hãn, Quế chi gia Hoàng kỳ thang chủ chi.”
  • Ngoài ra còn có các luận thuật liên quan về phụ khoa, bệnh sau sinh và tạp bệnh.

Ứng dụng của Quế chi thang trong 《伤寒论 – Thương hàn luận》 và 《金匮要略 – Kim quỹ yếu lược》 có những điểm tương đồng và khác biệt. Điểm tương đồng là đều phát huy tác dụng điều hòa âm dương; điểm khác biệt là trong 《伤寒论 – Thương hàn luận》, Quế chi thang thiên về giải cơ khu phong, dùng cho chứng ngoại cảm biểu hư; còn trong 《金匮要略 – Kim quỹ yếu lược》, ứng dụng của nó rộng rãi hơn, dùng để điều trị nội thương tạp bệnh, nhằm điều hòa công năng tạng phủ, trợ dương hóa khí, phù chính khu tà.

Phạm vi điều trị chính của Quế chi thang trong 《金匮要略 – Kim quỹ yếu lược》 bao hàm huyết tí hư lao, phụ nhân tạp bệnh, hãn chứng, thấp chứng. Đặc điểm của nó là thông qua điều hòa âm dương khí huyết của cơ thể, cải thiện tận gốc môi trường bên trong, từ đó đạt được mục đích trị bệnh. Quế chi, Cam thảo tân cam hóa dương, có thể trợ Thái dương dung hòa Vệ khí; Bạch thược, Cam thảo toan cam hóa âm, có thể khởi Thiếu âm điện an Doanh huyết; Sinh khương thông thần minh, phụ tá Quế chi hành dương; Đại táo tiết doanh khí, phụ tá Bạch thược hành doanh. Đối với bốn loại hình doanh vệ bất hòa, Quế chi thang và các phương tễ gia giảm của nó đều có thể điều trị, từ đó điều hòa doanh vệ, phù trợ chính khí tạng phủ để khu tà, hiện thực hóa mục tiêu điều trị các loại nội thương tạp bệnh.

Ứng dụng Quế chi thang trong điều trị Hư lao

《金匮要略 – Kim quỹ yếu lược》 ghi chép rõ ràng các điều văn dùng Quế chi thang điều trị hư lao, như: “Hư lao lý cấp, quý, nục, phúc trung thống, mộng thất tinh, tứ chi toan thống, thủ túc phiền nhiệt, yên can khẩu táo, Tiểu kiến trung thang chủ chi.” Hư lao là tên bệnh cổ. “Hư” chỉ sự gầy rộc, “Lao” chỉ sự mệt mỏi, bệnh trình diễn biến mãn tính. Do các nhân tố dẫn đến tinh huyết bất túc, âm dương lưỡng hư, cơ chế bệnh sinh cuối cùng chủ yếu quy kết về sự tổn hao âm dương khí huyết tân dịch của Tỳ Thận.

Giữa cổ đại và hiện đại có sự khác biệt nhất định trong cách hiểu về hư lao. Hư lao được bàn trong 《金匮要略 – Kim quỹ yếu lược》 có tính đa dạng, như hư lao thất tinh, yêu thống, bất đắc miên (mất ngủ), can huyết, phong khí bách tật… Lúc này phạm vi bao hàm của hư lao khá rộng, chủ yếu lấy trạng thái hư nhược toàn thân của bệnh nhân làm điểm chẩn đoán mấu chốt, các triệu chứng chính cục bộ có thể là hư hoặc thực, tính chất bệnh cũng vậy. Trong khi đó, y học hiện đại nhận thức hư lao dựa trên cơ sở hư chứng, tính chất hư tổn toàn thân và cục bộ thống nhất với nhau, chủng loại bệnh bao hàm tương đối đơn nhất.

Điều trị bệnh hư lao, lựa chọn hàng đầu là Tiểu kiến trung thang – phương thuốc được gia giảm từ Quế chi thang.

Các chứng lý cấp, tâm quý và phúc thống trong chứng Tiểu kiến trung thang là do trung tiêu khí huyết bất túc, cơ nhục và tạng phủ không được tinh huyết nhu dưỡng, đồng thời kiêm có hàn tà ngoại xâm.Mộng thất tinh, tứ chi toan thống, thủ túc phiền nhiệt, yên can khẩu táo là do hạ tiêu bất túc gây ra.

Tiểu kiến trung thang dựa trên nền Quế chi thang, trọng dụng Di đường (Mạch nha) và tăng gấp đôi lượng Bạch thược. Tỉ lệ dược tính âm dương trong phương xấp xỉ 2:1, ý đồ là “điểm hỏa gia du” (tiếp thêm dầu vào lửa), khiến dương nhiệt chưng hóa âm tân, hóa thành khí của Tỳ vị để bổ chỗ hư của tạng phủ.

Tiểu kiến trung thang là phương thuốc hay để trị đau bụng, 《苏沈良方 – Tô Thẩm lương phương》 đánh giá phương này “trị phúc thống như thần”; 《证治准绳 – Chứng trị chuẩn thằng》 có nói “trị lỵ bất phân xích bạch cửu tân, đãn phúc trung đại thống giả thần hiệu” (trị lỵ không phân biệt đỏ trắng cũ mới, hễ đau bụng dữ dội dùng đều hiệu nghiệm như thần); Lý Đông Viên cũng từng nói: “Lấy Quế chi thay bằng Nhục quế, là thần dược trị cảm hàn phúc thống”.

Có thể thấy, Tiểu kiến trung thang với nền tảng là Quế chi thang có hiệu quả rõ rệt đối với các bệnh chứng lấy hư lao làm chủ trên lâm sàng. Cùng với sự đi sâu nghiên cứu thực tiễn, vai trò của nó trong việc ứng dụng đối với các bệnh lý lâm sàng hiện đại dựa trên nền tảng hư lao như đau bụng trẻ em, chậm phát triển, bệnh gan vị mãn tính, xuất huyết hoại tử dị ứng… cũng rất đáng để tiếp tục nghiên cứu và khám phá.

Ứng dụng Quế chi thang trong điều trị hãn chứng

《素问 – Tố vấn · Âm dương biệt luận》 có chép: “Dương gia ưu âm vị chi hãn” (Dương gia thêm vào âm gọi là mồ hôi). Hãn chứng bao gồm tự hãn (tự ra mồ hôi), đạo hãn (mồ hôi trộm) và vô hãn (không có mồ hôi). Trên lâm sàng, Quế chi thang chủ yếu được dùng để điều trị tự hãn và đạo hãn.

Cơ chế bệnh sinh của tự hãn chủ yếu do tạng phủ âm dương thất điều, âm tranh dương nhiễu, khí huyết doanh vệ bất hòa, xuất nhập mất thường, dẫn đến tấu lý không kín khít, huyền phủ (lỗ chân lông) đóng mở mất kiểm soát, khiến tân dịch ngoại tiết bất thường mà thành bệnh. Cơ chế của đạo hãn chủ yếu do âm hư hỏa vượng, bức bách tân dịch ngoại tiết, cộng thêm dương hư khiến tác dụng vệ ngoại cố nhiếp bị suy giảm dẫn đến ra mồ hôi; mồ hôi thoát ra lại làm thương âm, lâu dần xuất hiện âm dương thất điều, doanh vệ bất hòa mà gây ra đạo hãn.

Đặc điểm của Quế chi thang khi điều trị “hãn chứng” là: Bệnh nhân thường có biểu hiện Tỳ vị hư nhược, mồ hôi tự chảy, tự phát nhiệt, mạch phù nhược (mạch hư phù). Nguyên nhân sâu xa là do Tỳ vị hư nhược dẫn đến nguồn hóa sinh Vệ khí bất túc, từ đó Vệ khí hư, không thể phát huy tác dụng ôn húy thể biểu và cố nhiếp tấu lý, xuất hiện chứng ố hàn hãn xuất.

Quế chi thang thông qua điều hòa doanh vệ, làm cho Vệ khí kiên cố, Doanh âm nội thủ, từ đó phát huy tác dụng cố biểu chỉ hãn. Quế chi ôn thông vệ dương, Bạch thược tư dưỡng doanh âm, hai vị phối ngũ, một tán một thu, điều hòa doanh vệ; Sinh khương trợ Quế chi để giải biểu, Đại táo trợ Bạch thược để hòa doanh, Chích Cam thảo điều hòa các vị thuốc, cùng phối hợp phát huy công hiệu điều hòa doanh vệ, cố biểu chỉ hãn.

Quế chi thang có hỗ trợ nhất định trong điều trị hãn chứng ở lâm sàng hiện đại, có thể dùng làm phương tễ cố biểu chỉ hãn. Khi dùng Hoàng kỳ điều trị tự hãn ở trẻ em không hiệu quả, điều này cung cấp cho lâm sàng Đông y hiện đại một hướng tư duy là thử nghiệm điều trị gia giảm trên nền phương Quế chi thang.

Ứng dụng Quế chi thang trong điều trị phụ khoa

Trong 《金匮要略 – Kim quỹ yếu lược》 có các điều văn như: “Phụ nhân sản hậu phong, tục chi sổ thập nhật bất giải, đầu vi thống, ố hàn, thời thời hữu nhiệt, tâm hạ muộn, can ẩu, hãn xuất, tuy cửu, Dương đán chứng tục tại nhĩ, khả dữ Dương đán thang (tức Quế chi thang)” (Phụ nữ sau sinh bị trúng phong, kéo dài mấy mươi ngày không khỏi, đầu hơi đau, sợ lạnh, thỉnh thoảng phát nhiệt, dưới tim đầy tức, nôn khan, ra mồ hôi, tuy đã lâu nhưng chứng Dương đán vẫn còn đó, có thể cho dùng Dương đán thang, tức Quế chi thang).

Hay như điều văn: “Phụ nhân kinh thủy thích đoạn, phát nhiệt ố hàn, phát tác hữu thời… nhược mạch phù giả, ngoại vị giải dã, nghi Quế chi thang” (Phụ nữ vừa dứt kinh, phát nhiệt sợ lạnh, phát tác có chừng mực… nếu mạch phù là biểu chưa giải, nên dùng Quế chi thang). Những điều này thể hiện vai trò quan trọng của Quế chi thang trong việc ôn dương hóa khí, điều hòa khí huyết khi điều trị các bệnh phụ khoa như kinh nguyệt không đều, bệnh sau sinh.

Phụ nữ do đặc thù sinh lý nên dễ rơi vào tình trạng chính hư tà xâm, dẫn đến doanh vệ thất điều, âm dương bất hòa. Hơn nữa, khi phụ nữ mang thai, huyết tụ lại để nuôi dưỡng thai nhi nên dễ mắc các bệnh thai nghén. 《沈氏女科辑要 – Thẩm thị nữ khoa tập yếu》 có nói: “Bệnh của thai phụ có ba cương lĩnh lớn: Một là âm khuy (thiếu hụt phần âm). Tinh huyết của con người có hạn, tụ lại nuôi thai thì phần âm tất yếu bị thiếu hụt. Hai là khí trệ. Trong bụng thêm một vật cản thì khí thăng giáng tất bị trệ. Ba là đàm ẩm. Tạng phủ trong người nằm sát nhau, trong bụng đột ngột thêm một vật, cơ quan của tạng phủ vì thế mà không linh hoạt, tân dịch tụ lại thành đàm ẩm”.

Phụ nữ lấy huyết làm gốc, vào các thời kỳ đặc biệt như kinh nguyệt, thai nghén, sau sinh, khí huyết dễ bị rối loạn. Các tình trạng âm khuy, khí trệ, đàm ẩm đều có thể dẫn đến khí huyết thất điều, dương khí bế uất, doanh vệ bất hòa. Quế chi thang thông qua việc điều chỉnh sự cân bằng khí huyết âm dương, ôn hóa dương khí, điều tiết doanh vệ, giúp cơ thể phụ nữ khôi phục trạng thái sinh lý bình thường.

Quế chi thang cũng có hỗ trợ nhất định trong điều trị các bệnh phụ khoa lâm sàng hiện nay. Trong trường hợp biện chứng đúng là chứng Quế chi thang, việc vận dụng hợp lý Quế chi thang gia giảm có thể đạt được hiệu quả trị liệu tốt đối với các bệnh phụ khoa.

Dựa trên căn cứ lý luận trong 《伤寒论 – Thương hàn luận》, 《金匮要略 – Kim quỹ yếu lược》 cũng như sự mở rộng lý luận của Quế chi thang trong điều trị tạp bệnh, điều này đã cung cấp một tư duy chẩn trị hoàn toàn mới cho lâm sàng Đông y hiện đại. Quan niệm truyền thống cho rằng Quế chi thang đa phần dùng cho bệnh ngoại cảm, nhưng việc ứng dụng phương này trong điều trị tạp bệnh đã phá vỡ giới hạn đó. Sự thất điều của khí huyết âm dương bên trong cơ thể chính là căn nguyên phát sinh nhiều loại bệnh tật. Bất kể là ngoại cảm hay nội thương tạp bệnh, chỉ cần cơ chế bệnh sinh phù hợp với tình trạng doanh vệ bất hòa, khí huyết không thông lợi, đều có thể vận dụng phép “điều hòa” của Quế chi thang.

Trong xã hội hiện đại, nhịp sống nhanh và áp lực lớn khiến nhiều người rơi vào trạng thái “á khỏe mạnh” (sub-health). Tư tưởng điều hòa âm dương, phù chính cố bản chứa đựng trong Quế chi thang có thể giúp tăng cường sức đề kháng và dự phòng bệnh tật phát sinh.

Việc ứng dụng Quế chi thang cần nắm vững nguyên tắc “hòa nhi bất tuấn, ôn nhi bất táo” (hòa hoãn mà không thô bạo, ấm áp mà không khô ráo). Người khí hư dễ ra mồ hôi nên ích vệ cố biểu; người phúc thống câu cấp (đau bụng co thắt) nên trọng dụng Bạch thược và cân nhắc phối hợp thuốc hành khí; người đàm thấp nội thịnh nên tá thêm các vị táo thấp hóa đàm. Nếu là âm hư nội nhiệt, mồ hôi ra quá nhiều hoặc nhiệt tượng rõ rệt thì nên thận trọng khi dùng hoặc đổi phương khác để phòng tránh việc mất cơ hội điều trị hoặc điều trị sai.

Tài liệu tham khảo

桂枝汤在《金匮要略》中的应用及其理论拓展 – 中医学, 2025, 14(11), 4624-4629

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chỉ mục