Trong dòng chảy ngàn năm của Y học cổ truyền, nếu cần tìm một phương thuốc hội tụ đỉnh cao của nghệ thuật phối ngũ và triết lý trị liệu hệ thống, chắc chắn đó phải là Tiêu Dao Tán. Được mệnh danh là “Nữ khoa thánh dược” nhưng tầm vóc của Tiêu Dao Tán đã vượt xa khỏi phạm vi phụ khoa, trở thành phương thuốc đại diện cho liệu pháp “Hòa giải” giúp điều hòa mâu thuẫn giữa Can và Tỳ – hai tạng khí cốt lõi quyết định sự vận hành của khí huyết. Cùng DUPOMA tìm hiểu về phương thuốc nổi danh Tiêu Dao Tán.
Nguồn gốc bài thuốc Tiêu Dao Tán
Thời điểm xuất hiện
Tiêu dao tán là phương thuốc kinh điển và nổi tiếng bậc nhất trong Y học cổ truyền.
Đầu thời Tống (960-1127), triều đình đã phát động phong trào “hiến phương” trong dân gian. Ai hiến phương thuốc hay đều được thưởng tiền bạc, thậm chí phong quan. Vì vậy thời đó các phương thuốc dân gian rất thịnh hành. Triều đình thu thập, chỉnh lý, phân loại và kiểm chứng, cuối cùng giữ lại những phương thuốc tốt nhất và ban hành sách hướng dẫn điều trị ra xã hội. Những bộ sách lớn về y phương được hình thành, một trong số đó là cuốn《太平惠民和剂局方 – Thái Bình huệ dân hòa tễ cục phương》biên soạn vào niên hiệu Nguyên Phong khoảng năm 1078.
Ban đầu chỉ có hơn 200 phương, sau nhiều năm phát triển lên hơn 700 phương. Đến nay chúng ta vẫn còn dùng nhiều phương trong đó như: Ngưu Hoàng Thanh Tâm Hoàn, Hoắc Hương Chính Khí Tán, Lục Nhất Tán, Chí Bảo Đan và danh phương Tiêu Dao Tán.
Tiêu Dao Tán vốn là một phương thuốc lưu truyền trong dân gian từ lâu, sau khi được các ngự y thẩm định, hiệu đính và đưa vào bộ sách này, nó chính thức trở thành một “Quốc phương”. Tiêu Dao Tán cũng trở thành một trong các loại “trung thành dược” (thuốc thành phẩm) đầu tiên được nhà nước quản lý tại Trung Quốc
Nền tảng lập phương
Mặc dù được ghi chép chính thức vào thời nhà Tống, nhưng Tiêu dao tán được coi là sự phát triển và kế thừa tinh hoa từ hai bài thuốc kinh điển của “Y thánh” Trương Trọng Cảnh từ thời Đông Hán là Tứ nghịch tán (trong cuốn Thương hàn tạp bệnh luận) và Đương quy thược dược tán (trong cuốn Kim quỹ yếu lược). Việc kết hợp các vị thuốc sơ can (như Sài hồ) với các vị bổ huyết, kiện tỳ (như Đương quy, Bạch thược, Bạch truật) đã tạo nên một cấu trúc phương tễ hoàn chỉnh để điều hòa can – tỳ.
Nếu Tứ Nghịch Tán dùng Sài Hồ, Bạch Thược, Chỉ Thực. Chỉ Thực thiên về tiêu tích trệ ở vùng bụng trên (vị quản). Đó là chứng Can Vị bất hòa (Can ảnh hưởng đến Vị). Thì Tiêu Dao Tán tập trung vào triệu chứng mệt mỏi, đuối sức, kém ăn. Đó là do khí huyết thiếu hụt từ nguồn sinh hóa. Đây là chứng Can Tỳ bất hòa (Can Tỳ bất điều).
Vị chủ về thu nạp và giáng xuống, Tỳ chủ về vận hóa và thăng lên. Tùy vào biểu hiện lâm sàng là ở Tỳ hay ở Vị mà ta chọn phương thuốc cho đúng.
Ý nghĩa tên gọi “Tiêu dao”
Trong một số tài liệu cổ Tiêu Dao Tán được ghi chép là “消摇散”. Lý giải cho cách đặt tên như vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng:
消: Tiêu: Tiêu trong tiêu tan, tiêu trừ. Xuất phát từ ý “Dương động nhi băng tiêu” nghĩa là Mặt trời mọc, băng tan chảy. Băng tan ra thành nước, cái bản thể vẫn vậy. Không phải là dùng búa phá băng, mà là dùng khí ôn để băng từ từ chuyển hóa quay về bản thể. Muốn nói uống Tiêu Dao Tán nhiều cũng không hại đến cái gốc của cơ thể. Đây là phương thuốc rất ôn hòa, mang tính chất hòa giải, liều lượng thấp nhưng hiệu quả cực cao.
摇: Dao: Dao trong dao động. Hàm ý muốn nhắc đến con thuyền đi trên nước, nước dao động, thuyền cũng dao động, dù nước có động nhưng không làm hại đến thuyền. Phương thuốc tạo ra trạng thái động nhưng không thương tổn bản thể, giúp cơ thể tốt lên.Điều này chỉ tính chất Hòa hoãn (Hòa pháp) của bài thuốc: lắc nhẹ khí cơ để thiết lập lại sự cân bằng mà không gây kích ứng mạnh (như các loại thuốc phá khí).
Có thể ví như một cái giỏ đựng đồ đạc lộn xộn, cái thì quá cứng, cái thì thiếu hụt. Khi bạn lắc nhẹ (dao động) cái giỏ, đồ bên trong không mất đi mà đạt được trạng thái cân bằng. Tiêu Dao Tán là một phương thuốc rất ổn định.
Mãi đến sau này đặc biệt là các tài liệu ghi chép thời Minh – Thanh, nhiều tác giả thống nhất sửa tên “消摇散” thành “逍遥散”. Đây là quá trình chuẩn hóa chữ quốc ngữ, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa tác dụng thực sự của phương thuốc.
Tiêu dao du – 逍遥游 là tên thiên thứ nhất của Nam Hoa Kinh – tác phẩm kinh điển của Trang Tử (369-286TCN) – một triết gia nổi tiếng của Đạo giáo thể hiện sâu sắc cái chí tự do tự tại, thoải mái về tinh thần, ngao du tứ hải, khoáng đạt, thuận theo lẽ tự nhiên, không gò bó.
Vì Tiêu Dao Tán có thể tán cái uất của Can khí, hành cái trệ của huyết dịch, sau khi uống khiến khí huyết lưu thông không trở ngại, toàn thân thoải mái tự tại, khôi phục sinh khí và sức sống, từ đó cải thiện cực lớn trạng thái tinh thần, làm cho tình cảm thư thái, tâm trạng vui vẻ, nên mới có mỹ danh là “Tiêu Dao”.
Thành phần bài thuốc và triết lý phối phương
Thành phần bài thuốc
Thành phần của Tiêu Dao Tán là một chỉnh thể hoàn hảo giữa Tân tán (Sài hồ, Bạc hà), Chua liễm (Bạch thược), Ngọt bổ (Cam thảo, Đương quy) và Đắng kiện (Bạch truật). Đây chính là đỉnh cao của nghệ thuật phối ngũ Đông y nhằm điều hòa mâu thuẫn giữa Mộc và Thổ.
| Vị thuốc | Vai trò | Công dụng |
| Sài hồ | Quân | Sơ can giải uất, thấu đạt uất nhiệt. |
| Đương quy | Thần | Dưỡng huyết hòa huyết, hành huyết trong mạch. |
| Bạch thược | Thần | Dưỡng huyết liễm âm, nhu can, hoãn cấp chỉ thống. |
| Bạch truật | Tá | Kiện tỳ táo thấp, giúp tỳ khí khỏe mạnh. |
| Phục linh | Tá | Kiện tỳ thẩm thấp, ninh tâm an thần. |
| Cam thảo (chích) | Tá/Sứ | Ích khí bổ trung, điều hòa các vị thuốc. |
| Sinh khương | Tá/Dẫn | Ôn vị hòa trung, giáng nghịch chỉ ẩu (nướng lên để dùng). |
| Bạc hà | Tá/Dẫn | Tân tán uất nhiệt, dẫn thuốc vào kinh Can. |
Vị Quân (Chủ chốt): Sài Hồ (柴胡)
Tác dụng: Sơ can giải uất.
Gốc của bệnh là Can khí bị uất kết gây đau chướng, Sài Hồ đóng vai trò mở đường, giải tỏa sự bế tắc đó.
Vị Thần (Hỗ trợ): Đương Quy (当归) & Bạch Thược (白芍)
Tác dụng: Dưỡng huyết nhu Can.
Can là tạng “thể âm mà dụng dương” (tạng chứa máu nhưng hoạt động bằng khí). Khi Can khí uất lâu ngày làm hao tổn huyết, hoặc Tỳ hư không sinh ra huyết để nuôi Can, làm Can trở nên “khô cứng”. Đương quy phối với Bạch thược chẳng phải là một nửa của Tứ Vật Thang chuyên dưỡng huyết, giúp bổ sung lượng huyết thiếu hụt, làm cho “nhuận” cái tạng Can lại. Huyết đủ thì Can mới hòa hoãn, không còn bạo liệt, nhu hòa.
Đương Quy + Bạch thược là nuôi dưỡng cái kho (huyết) của Can, Sài hồ là điều hòa cái dụng (cái khí)
Như vậy vừa là trực tiếp dưỡng Can huyết, vừa là dĩ tả vi bổ, giải tỏa cái uất để điều hòa Can khí.
Vị Tá (Phụ trợ): Bạch Truật (白术) & Phục Linh (茯苓)
Tác dụng: Kiện Tỳ ích khí.
Đây là hai vị trong bài Tứ Quân Tử Thang. Chúng giúp làm mạnh Tỳ Thổ. Tại sao phải làm mạnh Tỳ?
- Để phòng thủ: “Đả thiết hoàn nhu thiết tự thân ngạnh” (Muốn rèn sắt thì bản thân thợ rèn phải khỏe). Tỳ khỏe thì không sợ Can “tấn công” (tương thừa). Chỉ cần Can khí thịnh, thì dù Tỳ không hư Can cũng sẽ khắc phạt Tỳ.
- Để hậu cần: Tỳ là nguồn sinh hóa khí huyết. Uống thuốc bổ huyết (Đương Quy, Bạch Thược) chỉ là giải pháp tạm thời (cho tiền tiêu). Muốn có nguồn máu lâu dài, phải để Tỳ tự sản xuất (dạy cách kiếm tiền).
Vị Tá & Sứ: Bạc Hà (薄荷) & Sinh Khương (生姜 – Gừng)
Sinh Khương: Vị cay, tính ấm. Sau khi nướng (vi khương), tính ấm tăng lên giúp ôn trung hòa vị, chống nôn, hỗ trợ Tỳ Vị hồi phục.
Bạc Hà: Tính mát, vị cay. Bạc Hà hỗ trợ Sài Hồ tán uất, đồng thời tính mát giúp thanh bớt nhiệt do Can uất hóa hỏa (nhưng chỉ là hỏa nhẹ). Nó còn đóng vai trò “dẫn thuốc” vào kinh Can.
Nếu uất lâu hóa hỏa mà hỏa mạnh mẽ thì Bạc Hà không đủ, sẽ phải dùng đến các thuốc thanh Can tiết hỏa như Long Đởm Thảo…
Vị Sứ: Cam Thảo (甘草)
Tác dụng: Điều hòa các vị thuốc.
Ngoài ra, Cam Thảo (vị ngọt) kết hợp Bạch Thược (vị toan) tạo ra hiệu ứng “Toan Cam hóa Âm”, giúp sinh huyết cực tốt.
Cam thảo vốn có tác dụng ích khí bổ trung, nay hợp với Bạch truật, Bạch linh là một phần của bài Tứ quân tử chuyên kiện Tỳ ích khí.
Như vậy
- Sài hồ làm quân dược nên phương Tiêu Dao Tán chính là lấy sơ Can làm chính.
- Vùa có dưỡng huyết vừa có bổ khí hợp lại thành khí huyết kiêm cố, lấy lý khí làm chính
Mặc dù bài thuốc có rất ít vị xong việc phối ngũ được tính toán rất thận trọng, bày binh bố trận, đánh một trận liền đại thắng.
Triết lý phối phương
Triết lý phối phương của Tiêu Dao Tán nằm ở 3 đích đến: Sơ can – Dưỡng huyết – Kiện tỳ
Can khí uất → Khí trệ → Tỳ hư → Huyết suy → Can huyết hư, Can thể khô héo, Can uất càng nặng
Tiêu Dao Tán tác động vào cả 4 mắt xích cùng một lúc. Nó không chỉ là thuốc “giải tỏa cảm xúc” mà là thuốc “phục hồi hệ thống khí huyết”. Là một trong những phương thuốc hàng đầu của nhóm bài thuốc Hòa giải ( Hòa pháp).
Sơ can
Can chủ về sơ tiết, tính thích thông đạt. Khi bị uất kết, khí cơ không thông sinh ra đau chướng.
- Sài hồ: Là vị thuốc chủ chốt (Quân), có vị cay tính mát, đi vào kinh Can để khai mở sự bế tắc của khí cơ.
- Bạc hà: Vị cay mát, hỗ trợ Sài hồ thăng tán cái uất hỏa đang nhen nhóm bên trong, làm nhẹ vùng đầu mặt và ngực sườn.
Nhu can dưỡng huyết
Đông y quan niệm “Can thể âm mà dụng dương”. Nghĩa là bản thể của Can chứa máu (Âm), nhưng hoạt động bằng khí (Dương). Can uất lâu ngày chắc chắn sẽ làm hao tổn huyết.
- Đương quy: Vị ngọt cay tính ấm, không chỉ bổ huyết mà còn động huyết, giúp máu về Can không bị ứ trệ.
- Bạch thược: Có vị chua (toan), tính liễm. Bạch thược “nhu can” – làm cho tạng Can vốn đang căng cứng vì uất ức trở nên mềm mại, hòa hoãn trở lại.
- Sự kết hợp Đương quy + Bạch thược + Sài hồ: Đây là bộ ba kinh điển giúp “Bổ trong Sơ, Nhu trong Cương”, ngăn chặn Sài hồ tính thăng tán quá mức làm thương tổn âm huyết.
Kiện tỳ
Đây là sự vận dụng tuyệt vời học thuyết Ngũ hành, sách Nạn Kinh dạy rằng “Kiến Can chi bệnh, tri Can truyền Tỳ, đương tiên thực Tỳ”. Nghĩa là khi thấy Can có bệnh, biết Can bệnh sẽ tác động đến Tỳ nên phải dưỡng Tỳ trước.
- Can Mộc uất kết chắc chắn sẽ bắt nạt Tỳ Thổ.
- Bạch truật & Phục linh: Kiện tỳ khí, làm cho đất (Thổ) trở nên vững chãi, không sợ Gỗ (Mộc) lấn át. Đồng thời, Tỳ khỏe thì nguồn sinh hóa khí huyết dồi dào, cung cấp ngược lại cho Can.
- Cam thảo: Phối hợp với Bạch thược tạo thành cặp “Toan cam hóa âm”, giúp sinh ra âm huyết và giảm đau bụng nhanh chóng.
- Sinh khương: Tỳ vị suy yếu do Can lấn át thường sinh ra hư hàn, khí nghịch (buồn nôn). Gừng nướng (Vi khương) giúp làm ấm trung tiêu, giúp dạ dày (Vị) chấp nhận thuốc và chuyển vận thuốc đi khắp cơ thể hiệu quả hơn.
Hòa pháp
Tiêu Dao Tán được xếp vào nhóm các phương thuốc Hòa giải
- Nó không mạnh bạo như các bài thuốc “Phá khí” (làm mất sức).
- Nó không nê trệ như các bài thuốc “Đại bổ” (gây đầy bụng).
Nó chọn con đường trung dung: Sơ nhưng không tán, Bổ nhưng không trệ. Chính triết lý này giúp Tiêu Dao Tán có thể sử dụng lâu dài cho những người bị suy nhược thần kinh, mệt mỏi mãn tính hoặc các bệnh phụ khoa kéo dài mà không gây tác dụng phụ.
Biện chứng luận trị các chứng bệnh dùng Tiêu Dao Tán
Không “tiêu dao” nghĩa là tâm trạng không tốt. Khi nào con người tâm trạng không tốt? Phần đa là do “sở nguyện bất toại” không đạt được điều mình mong muốn, thấy không hài lòng, sinh ra hờn dỗi, bực bội.
Nhắc đến không “tiêu dao” ta nghĩ ngay đến tạng Can. Mặc dù Đông y cho rằng “Tâm chủ thần minh” nhưng cái sự “không vui” thực chất nằm ở Can. Can chủ tình chí, chủ sơ tiết điều đạt. Khí Can không được sơ tiết dẫn đến Can khí uất kết
Biểu hiện lâm sàng của Can khí uất kết
Khi Can khí uất kết, kinh Can đi qua vùng hông sườn và vú, nên triệu chứng điển hình nhất là đau chướng hai bên hông sườn, đau vùng vú. Nặng hơn sẽ cảm thấy đau nhói.
- Ở nam giới: Có thể xuất hiện đau chướng vùng ngực.
- Ở nữ giới (phổ biến hơn): Gây đau chướng vú rõ rệt. Bởi vì “Phụ nữ lấy Can làm gốc”, Can tàng huyết, là biển của máu. Khi Can khí uất kết, khí trệ dẫn đến huyết ứ, kinh nguyệt không thể xuống đúng kỳ, gây ra kinh nguyệt không đều.
- Rối loạn chu kỳ: Bình thường 28 ngày, nay có thể đến muộn hoặc sớm hơn.
- Rối loạn lượng và sắc: Lượng máu quá ít, màu sắc thâm đen, có máu cục… tất cả đều do Can khí uất kết mà thành.
Biểu hiện lâm sàng của Can uất hóa hỏa
Can khí uất kết lâu ngày sẽ hóa hỏa. Hỏa bốc lên trên gây đau đầu, hoa mắt chóng mặt. Dân gian hay nói “tức đến váng đầu” chính là đây.
Ngoài ra còn gây khô miệng, khô họng.
Có những người khi tức giận thì tay run, tay tê, nói năng lắp bắp, hoặc cứ phải nuốt nước bọt liên tục vì cảm thấy cổ họng khô khốc.
Mối quan hệ Can – Tỳ: Mộc khắc Thổ
Theo ngũ hành, Can thuộc Mộc, Tỳ thuộc Thổ. Khi Can khí quá mạnh (dư thừa do uất kết), nó sẽ “hoành phạm” sang Tỳ Thổ, làm suy yếu chức năng vận hóa của Tỳ Vị. Có hai trường hợp:
-
Can thực Tỳ hư: Tỳ vốn không yếu, nhưng Can quá mạnh nên lấn át (tương thừa), khiến Tỳ trở nên yếu.
-
Tỳ vốn đã hư: Gặp thêm Can khí uất kết lại càng bị áp chế nặng nề hơn.
Khi Tỳ Vị suy yếu, bạn sẽ thấy: tinh thần mệt mỏi (thần bì), ăn không ngon (nạp đái), người uể oải, thiếu sức sống. Tỳ là nguồn sinh hóa khí huyết. Tỳ yếu thì huyết không đủ. Huyết không đủ thì không thể nuôi dưỡng được Can (vì Can tàng huyết). Can không có huyết nuôi dưỡng thì không thể nhu hòa. Đây là một vòng lặp bệnh lý tương hỗ.
Tổng kết biện chứng
Đây là chứng Can uất – Huyết hư – Tỳ thất kiện vận là một trong các thể nằm trong phạm trù của chứng Can Tỳ bất điều.
- Sự bế tắc của khí cơ:
- Đau chướng hông sườn: Đây là triệu chứng “vàng”. Bệnh nhân thường cảm thấy đầy tức, đau âm ỉ ở hai bên sườn. Cảm giác đau này có đặc điểm là đau chướng nhiều hơn đau nhói, thường tăng lên khi tức giận và giảm đi khi thở dài hoặc trung tiện (đánh rắm).
- Đau chướng vú: Đặc biệt phổ biến ở phụ nữ trước kỳ kinh nguyệt. Can uất làm các lạc mạch ở nhũ phòng bị tắc nghẽn, gây đau, căng cứng, thậm chí có thể sờ thấy khối u cục tạm thời (tăng sinh tuyến vú).
- Vùng ngực bụng khó chịu: Cảm giác như có vật gì vướng ở ngực, hay muốn thở dài (thiện thái tức). Khi thở dài được một hơi dài, bệnh nhân sẽ cảm thấy dễ chịu hơn đôi chút do khí cơ tạm thời được giãn ra.
- Tâm trạng u uất: Hay buồn phiền vô cớ, dễ mủi lòng hoặc ngược lại là cực kỳ dễ cáu gắt (cấp táo dị nộ).
- Khô miệng, khô họng: Đây là dấu hiệu của “uất nhi hóa hỏa”. Khí uất lâu ngày sinh nhiệt làm tân dịch bị thiêu đốt nhẹ, tạo cảm giác họng khô khốc nhưng thường không muốn uống nhiều nước.
- Sự suy yếu của Tỳ – Huyết
- Ăn uống kém: Bệnh nhân mất cảm giác ngon miệng, ăn vào thấy đầy bụng, khó tiêu.
- Đại tiện thất thường: Thường xuyên đi ngoài phân nát, lỏng (tiện đường), hoặc tình trạng “đau bụng là muốn đi ngoài, đi xong thì hết đau” (đặc điểm của hội chứng ruột kích thích thể Can uất Tỳ hư).
- Hoa mắt chóng mặt: Do huyết hư không nuôi dưỡng được lên đầu mặt. Bệnh nhân có cảm giác chao đảo, đặc biệt khi đứng lên ngồi xuống nhanh.
- Biểu hiện khác
- Kinh nguyệt không đều: Chu kỳ có thể đến sớm hoặc đến muộn không định kỳ. Lượng kinh thường ít, màu sắc thâm tối, có thể có máu cục.
- Hàn nhiệt vãng lai: Cảm giác lúc nóng lúc lạnh giống như sốt rét nhưng không phải sốt rét thật sự. Đây là biểu hiện của sự tranh chấp giữa tà và chính khí tại kinh Thiếu dương.
- Lưỡi (Thiệt chẩn): Lưỡi nhợt (đạm) hoặc hồng nhạt. Nếu có huyết ứ lâu ngày, rìa lưỡi có thể có vết bầm tím hoặc răng cưa (do Tỳ hư lưỡi béo nề). Rêu lưỡi trắng mỏng hoặc hơi nhớt
- Mạch (Mạch chẩn): Mạch huyền mà hư.
Một số phụ phương và gia giảm của Tiêu Dao Tán
Mặc dù là phương thuốc nổi tiếng bậc nhất trong y học cổ truyền, tuy nhiên Đông y luôn coi trọng việc điều trị cá thể hơn là điều trị bệnh đồng nghĩa với nhiều phụ phương và cách gia giảm ra đời
Hắc Tiêu Dao Tán (Thời Tống):
Trong truyện Hồng Lâu Mộng có nhắc đến “Hắc Tiêu Dao”. Đây là bản biến tấu sớm nhất bằng cách thêm Thục địa (hoặc Sinh địa) vào Tiêu Dao Tán. Việc này làm thuốc có màu đen, tăng cường sức mạnh bổ huyết, đặc biệt dùng cho phụ nữ bị huyết khô, âm hư nghiêm trọng.
Chỉ định: Can uất huyết hư nặng dẫn đến huyết không dưỡng được Can, kinh nguyệt không đều hoặc bế kinh, da khô, tóc rụng, móng tay giòn dễ gãy.
Nếu có nhiệt dùng Sinh địa, nếu thuần hư dùng Thục địa
Đan Chi Tiêu Dao Tán (Thời Minh):
Đến thời nhà Minh, y gia Tiết Kỷ đã thêm Mẫu đơn bì (Đan bì) và Chi tử vào bài thuốc gốc. Đan bì thanh huyết nhiệt, Chi tử thanh khí phận uất nhiệt
Mục đích là để thanh nhiệt, dành cho những người Can uất đã lâu dẫn đến hóa hỏa (mắt đỏ, miệng đắng, tính tình hung hăng). Đây là phiên bản cực kỳ phổ biến ngày nay.
Biểu hiện Can uất hóa hỏa: Mặt đỏ, miệng đắng, dễ nổi cáu, mắt đỏ, tiểu tiện vàng, đại tiện táo, kinh nguyệt đến sớm màu đỏ sẫm, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch Huyền Sác.
Tiêu Dao Hoàn hiện đại (Thế kỷ 20):
Các dược điển hiện đại gia thêm Hương phụ để tăng cường khả năng hành khí chỉ thống, phù hợp với cuộc sống hiện đại đầy áp lực và stress.
Gia giảm Tiêu Dao Tán
Tùy vào triệu chứng cụ thể mà người thầy thuốc sẽ biến hóa bài Tiêu Dao Tán:
- Khí uất nặng (đau chướng nhiều): Gia thêm Hương Phụ, Uất Kim, Thanh bì để tăng cường hành khí, chỉ thống.
- Kinh nguyệt không đều (đến muộn, lượng ít): Gia thêm Ích Mẫu Thảo (dùng trước kỳ kinh).
- Huyết hư nặng (sau kỳ kinh, sắc mặt nhợt): Gia thêm Thục Địa, Hà Thủ Ô, A Giao để tăng cường bổ huyết.
- Can hỏa vượng (dễ nổi cáu, mặt đỏ, hỏa bốc mạnh): Gia thêm Đan Bì, Chi Tử. Khi đó bài thuốc trở thành Đan Chi Tiêu Dao Tán (hay còn gọi là Gia Vị Tiêu Dao).
- Có khối u cục (tăng sinh tuyến vú, u xơ): Gia Hạ khô thảo, Xuyên sơn giáp, Nga truật, Tam lăng để nhuyễn kiên tán kết (làm mềm và tan khối u).
- Nấc nhiều, ợ hơi nhiều: Gia Trần bì, Chỉ xác để điều hòa khí ở trung tiêu
- Hoa mắt chóng mặt: Gia Cúc hoa, Thiên ma để bình can tức phong.
- Ăn kém, bụng đầy chướng: Gia Mộc hương, Sa nhân, kê nội kim để hành khí hóa tích, giúp tiêu hóa tốt hơn.
- Tiêu chảy, phân sống: Gia Ý dĩ, Đảng sâm, Hoài sơn; tăng liều Bạch truật, Phục linh để kiện tỳ chỉ tả.
- Đau bụng kinh (Thống kinh): Gia Huyền hồ (Diên hồ sách), Ích mẫu thảo để hoạt huyết hóa ứ, chỉ thống.
- Kinh nguyệt ra quá nhiều (do nhiệt): Gia Địa cốt bì, sao Thược dược để thanh nhiệt lương huyết.
- Khí hư đới hạ (Huyết trắng) nhiều: Gia Sơn thù du, Khiếm thực để thu liễm.
Lưu ý
- Liều lượng Sài hồ: Sài hồ có tính thăng tán mạnh. Nếu bệnh nhân có dấu hiệu Âm hư hỏa vượng rõ (người gầy, lòng bàn tay chân nóng) thì nên giảm liều Sài hồ hoặc thay bằng Thanh bì để tránh làm tổn thương thêm âm dịch.
- Cách sắc Bạc hà: Bạc hà chứa tinh dầu, không được sắc lâu. Phải cho vào sau cùng (hậu hạ), đun sôi thêm khoảng 1-2 phút rồi tắt bếp ngay để giữ được tính “tân tán” giải uất.
- Tỳ vị quá yếu: Nếu bệnh nhân quá nhạy cảm với các thuốc bổ huyết (gây đầy bụng), nên tăng các vị hành khí như Trần bì, Mộc hương trước khi dùng các vị bổ nặng như Đương quy.
Chỉ định
Sau hơn 1000 năm được sử dụng rộng rãi trong điều trị y học cổ truyền. Ngày nay, theo các nghiên cứu khoa học, Tiêu Dao Tán được ứng dụng trong nhiều bệnh lý khác nhau nhưng vẫn trên cơ sở nền tảng chứng Can uất – Huyết suy – Tỳ mất kiện vận
Các bệnh lý tâm thần – thần kinh
- Trầm cảm
- Đây là chỉ định được nghiên cứu nhiều nhất của Tiêu Dao Tán hiện nay.
- Bài thuốc được chỉ định cho các trường hợp trầm cảm từ nhẹ đến trung bình, giúp cải thiện các triệu chứng lâm sàng tương đương với một số thuốc chống trầm cảm Tây y nhưng ít tác dụng phụ hơn.
- Cơ chế hiện đại xác định Tiêu Dao Tán điều chỉnh hệ thống dẫn truyền thần kinh monoamine (như serotonin, dopamine, norepinephrine) và trục HPA (Hạ đồi – Tuyến yên – Tuyến thượng thận).
- Rối loạn lo âu và Mất ngủ: Tiêu Dao Tán đơn lẻ hoặc kết hợp với thuốc Tây y được chỉ định để giảm điểm số thang đo lo âu Hamilton (HAMA) và cải thiện chất lượng giấc ngủ (chỉ số PSQI) ở bệnh nhân mất ngủ kèm theo lo âu.
- Trầm cảm sau đột quỵ: Bài thuốc hỗ trợ cải thiện các triệu chứng trầm cảm và phục hồi chức năng thần kinh cho bệnh nhân sau tai biến mạch máu não.
- Bệnh Alzheimer: Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy biến phương “Hắc Tiêu Dao Tán” có tiềm năng cải thiện khả năng học tập, trí nhớ và giảm sự tích tụ amyloid-beta trong não.
Bệnh lý tiêu hóa
- Rối loạn tiêu hóa
- Tiêu Dao Tán dùng trong các trường hợp rối loạn tiêu hóa như Hội chứng ruột kích thích, Khó tiêu chức năng, Táo bón chức năng.
- Bài thuốc giúp giảm điểm số triệu chứng và tỷ lệ tái phát thông qua việc điều hòa nhu động ruột và hệ vi sinh vật đường ruột.
- Gan nhiễm mỡ không do rượu: Tiêu Dao Tán giúp giảm tích tụ lipid trong gan, hạ men gan (ALT, AST) và giảm viêm gan thông qua các con đường tín hiệu như PPAR
- Xơ gan và tổn thương gan: Hỗ trợ điều trị xơ gan, viêm gan mãn tính và đặc biệt là bảo vệ gan khỏi độc tính của các thuốc chống lao. Ức chế sự hoạt hóa của tế bào sao (HSC), giảm tổng hợp Collagen và đẩy nhanh quá trình tái tạo tế bào gan thông qua con đường tín hiệu TLR4/TRIF
Bệnh nội tiết và phụ khoa
Tiêu Dao Tán được mệnh danh là “nữ khoa thành dược” với nhiều chỉ định điều trị các bệnh phụ khoa
- Hội chứng tiền mãn kinh và mãn kinh: Điều trị các triệu chứng vận mạch (bốc hỏa, vã mồ hôi), rối loạn giấc ngủ và thay đổi tâm trạng ở phụ nữ quanh mãn kinh
- Hội chứng buồng trứng đa nang: Đan Chi Tiêu Dao hỗ trợ cải thiện tỷ lệ rụng trứng, tỷ lệ thụ thai và giảm tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân PCOS
- Tăng sinh lành tính tuyến vú: Nghiên cứu này cho thấy quercetin, kaempferol, luteolin và các thành phần khác của XYS có tiềm năng điều hòa nhiều con đường tín hiệu khác nhau
- Viêm tuyến giáp Hashimoto và Cường giáp: Các chế phẩm Tiêu Dao Tán giúp giảm nồng độ kháng thể kháng tuyến giáp (TPOAb, TgAb), điều hòa hormone TSH và hỗ trợ điều trị cường giáp khi kết hợp với thuốc kháng giáp
- Rối loạn kinh nguyệt: tình trạng kinh nguyệt có máu cục, máu đông, sắc kinh thẫm, đau bụng kinh…
- Ung thư vú: Tiêu Dao Tán hỗ trợ cho bệnh nhân ung thư vú đang hóa trị bổ trợ, giúp cải thiện chất lượng sống (QoL), giảm cảm giác lo âu, trầm cảm, cô đơn và tăng cường sức khỏe tinh thần
- Nám da: Tiêu Dao Tán gia giảm kết hợp với liệu pháp thông thường được chỉ định để làm mờ các vết sắc tố trên mặt, giảm diện tích vùng da bị tổn thương và ngăn ngừa tái phát thông qua cơ chế chống oxy hóa
Mặc dù các nghiên cứu còn ở giai đoạn đầu, quy mô nhỏ và còn nhiều hạn chế xong vẫn mang giá trị nhất định. Nó phần nào đã chứng minh được những tác dụng mà y học cổ truyền đã ứng dụng qua hàng nghìn năm và khẳng định thêm các triết lý phối phương thần hiệu ngay từ thời kỳ sơ khai.
Chống chỉ định
Mặc dù là phương thuốc với nhiều ứng dụng trong cả điều trị Đông y và được chứng minh bằng các nghiên cứu y học hiện đại nhưng không thể phủ nhận, giống như các phương thuốc khác, Tiêu Dao Tán vẫn cần được sử dụng thận trọng, đúng chứng, đúng người mới có thể phát huy hiệu quả tối đa, giảm thiểu những rủi ro sức khỏe không đáng có.
Theo một nghiên cứu thống kê thì từ năm 2005-2015 có khoảng 2940 bài nghiên cứu về Tiêu Dao Tán được công bố tại Trung Quốc tuy nhiên nhiều nghiên cứu chỉ định vị nó trong phạm vi điều trị chứng Can uất Tỳ hư mà bỏ qua tác dụng hòa giải thiếu dương. Điều này dẫn đến tình trạng cứ thấy tình chí không thông, tâm trạng không thư thái liền cho uống Tiêu Dao Tán. Đây là dùng cái “tên” mà bỏ qua cái “phương”
Trong cuốn《医宗己任编》Cao Cổ Phong (thời Thanh) cho rằng Tiêu Dao Tán trị uất hỏa hai kinh Can Đởm, bất luận thương hàn hay tạp bệnh, hễ thấy “Dương chứng” đều dùng được.
Chu Cúc Thông (thời Thanh) trong《医医病书 – Y y bệnh thư》phản biện rằng: Mọi người cứ thấy Can uất là dùng Tiêu Dao Tán, hiệu quả chỉ được một nửa. Ông cho rằng Can nộ thì khí xông thẳng lên (thuộc dương, đi dọc), không nên dùng thêm Sài Hồ có tính thăng tán làm trợ thế cho nộ khí. Nếu uất lâu thành huyết ứ, phải dùng thuốc thông lạc, chứ không phải dùng thuốc hành khí như Tiêu Dao Tán.
Việc dùng hay không dùng phải dựa trên biện chứng và hiểu rõ thuộc tính của tạng phủ, dược tính của dược liệu, tuyệt đối không được chẩn đoán qua loa.
Với các trường hợp bạo nộ thương Can, khí nghịch lên trên, nếu dùng Sài hồ, Sinh khương, Bạc hà thì sẽ khiến khí càng thăng lên, giúp kẻ ác làm càn
Thận hư, Can uất dùng Tiêu Dao Tán lâu dài sẽ khiến hóa táo thương âm
Với các trường hợp thực chứng, tà ở cơ biểu chưa vào Thiếu dương hoặc đã vào Dương minh nhiệt thịnh đều không được dùng. Khí trệ, lưỡi đỏ không rêu, mạch trầm tế tuyệt đối không dùng
Người bị âm hư hỏa vượng mức độ nặng (chân âm kiệt), người dương hư thể hàn nặng, hoặc người đang có các thực chứng như đàm thấp ứ trệ quá mức mà không có uất kết cần hết sức thận trọng, không tự ý dùng thuốc.
Trải qua gần mười thế kỷ, Tiêu Dao Tán vẫn đứng vững như một biểu tượng của y thuật “trị bệnh cầu kỳ bản”. Giá trị của phương thuốc không nằm ở sự mạnh bạo của các vị thuốc phá khí, cũng không ở sự nê trệ của các vị đại bổ, mà nằm ở chữ “Hòa” – sự cân bằng tuyệt diệu giữa sơ và liễm, giữa thăng và giáng, giữa khí và huyết. Trong kỷ nguyên y học hiện đại, khi áp lực tâm lý và các bệnh lý do stress trở thành vấn nạn toàn cầu, Tiêu Dao Tán một lần nữa khẳng định giá trị vượt thời gian của mình. Nó nhắc nhở chúng ta rằng: cơ thể là một hệ sinh thái thống nhất, nơi mà sự thong dong của tinh thần (Can sơ tiết) và sự vững chãi của hậu thiên (Tỳ vận hóa) luôn phải song hành. Vận dụng đúng Tiêu Dao Tán là bí quyết để sống tự tại.
Tham khảo
1. 逍遥散治疗围绝经期膀胱过度活动症的临床疗效及对患者雌激素水平的影响
2. Research Progress on Traditional Chinese Medicine in the Treatment of Perimenopausal Sweating Syndrome
3. 张鸿宇,罗晓 . 左归丸合逍遥丸治疗围绝经期综合征[J]. 中国实验方剂学杂志,2012,18(12):295-297
4. 王淮 . 坤泰胶囊联合逍遥丸治疗围绝经期综合征肾 虚肝郁证的临床疗效观察[J]. 中医临床研究,2022,14(24):56-58.
5. 王宁,敖学艳 . 女性围绝经期症状应用逍遥丸和“六字诀”锻炼后的影响[J]. 中外女性健康研究,2017,11(22):14,52