Tiểu sài hồ thang – 小柴胡汤

Tiểu sài hồ thang – phép hòa giải độc đáo và nghệ thuật phối ngũ dược liệu đỉnh cao của Thánh Y Trọng Cảnh. 

Nguồn gốc

Tiểu sài hồ thang là một thiên cổ danh phương, được ghi chép lần đầu trong cuốn 《伤寒杂病论 – Thương hàn tạp bệnh luận》 của Trương Trọng Cảnh thời Đông Hán.

《伤寒杂病论 – Thương hàn tạp bệnh luận》 là sự thể hiện tổng hợp của thuyết “Lục kinh biện chứng”, trong đó chia thương hàn và tạp bệnh thành 6 loại: Quyết âm bệnh, Thiếu âm bệnh, Thái âm bệnh, Thái dương bệnh, Dương minh bệnh và Thiếu dương bệnh. Mỗi bệnh tương ứng với các phương thuốc khác nhau, và phương thuốc đại diện cho phép “Hòa giải Thiếu dương” chính là Tiểu sài hồ thang.

Biện chứng “Hòa giải Thiếu dương”

Chứng Thiếu dương là gì?

Tiểu sài hồ thang chủ trị chứng Thiếu dương bệnh khu cơ bất lợi (bộ máy then chốt hoạt động không thông lợi), như trong 《伤寒杂病论 – Thương hàn tạp bệnh luận》 có chép: “Thương hàn năm sáu ngày, trúng phong, vãng lai hàn nhiệt, hung hiếp khổ mãn, mặc mặc bất dục ẩm thực, tâm phiền hỷ ẩu, hoặc hung trung phiền nhi bất ẩu, hoặc khát, hoặc phúc trung thống, hoặc hiếp hạ bĩ ngạnh, hoặc tâm hạ quý, tiểu tiện bất lợi, hoặc bất khát, thân hữu vi nhiệt, hoặc khái giả, Tiểu sài hồ thang chủ chi.”

Đoạn trên mô tả những biểu hiện chính của chứng Thiếu dương. Thiếu dương là tên kinh mạch trong Đông y, bao gồm hai kinh Thủ thiếu dương, Túc thiếu dương và hai phủ Tam tiêu, Đởm. Vị trí của nó nằm giữa Thái dương và Dương minh. Trong đó, Thái dương chủ biểu, phân bố dương khí để bảo vệ bên ngoài; Dương minh chủ lý, tiếp nhận dương khí để hỗ trợ nội tạng; Thiếu dương nằm ở giữa bán biểu bán lý (nửa biểu nửa lý), là nơi xoay chuyển (trục xoay) giữa trong và ngoài, là then chốt cho sự thăng giáng xuất nhập của âm dương khí cơ trong cơ thể người.

Giải thích như vậy thực ra vẫn rất trừu tượng, có thể lấy một ví dụ trực quan hơn: Nếu ví cơ thể người như một tòa thành, thì Thái dương, Thiếu dương và Dương minh lần lượt đại diện cho ngoài thành, cổng thành và trong thành. Khi chiến sự loạn lạc, khói lửa khắp nơi, để tránh họa từ bên trong và loại bỏ nỗi lo sau lưng, một vị tướng giỏi dụng binh chắc chắn sẽ bố trí trọng binh ở trong thành để giữ an nguy cho dân chúng, đồng thời lệnh cho tinh binh trấn giữ ngoài thành để ngăn quân địch xâm nhập. Lúc này, sự phòng ngự tại vị trí cổng thành tương đối mỏng manh. Tương tự, Thái dương và Dương minh mạnh mà Thiếu dương yếu, nên khả năng chống đỡ ngoại tà của Thiếu dương kém xa hai kinh kia.

Khi quân địch chọc thủng phòng tuyến ngoài thành, sắp sửa đánh vào trong thành, đó chính là giai đoạn quá độ của ngoại cảm bệnh tà từ biểu vào lý, từ hàn chuyển nhiệt. Quân địch tấn công mãnh liệt, tính chất bệnh vẫn thuộc nhiệt, nhưng vị trí bệnh không còn ở biểu (Thái dương), cũng chưa vào hẳn lý (Dương minh), không còn ở xa ngoài thành nhưng cũng chưa vào được trong thành – mà chỉ đang quanh quẩn ở Thiếu dương nơi cổng thành. Trọng binh trong thành ra tiếp viện tại cổng thành, dương khí và tà khí giao tranh ác liệt, biểu hiện trên cơ thể người là các triệu chứng: vãng lai hàn nhiệt (lúc rét lúc nóng), hung hiếp khổ mãn (ngực sườn đầy tức), bất dục ẩm thực (không muốn ăn uống)… bệnh thế dây dưa, lâu ngày không khỏi. Loại bệnh chứng này thuộc về Thiếu dương chứng, và Tiểu sài hồ thang chính là phương thuốc đại diện để đối phó với loại bệnh chứng này.

Thế nào là “Hòa giải”

Tại sao Thiếu dương chứng phải dùng “Hòa giải”? Điều này phải bắt đầu từ “Bát pháp” trong điều trị Đông y. “Bát pháp” bao gồm: “Hãn, Thổ, Hạ, Hòa, Ôn, Thanh, Bổ, Tiêu”.

Y gia đời Kim là Thành Vô Kỷ trong cuốn sách 《伤寒明理论 – Thương hàn minh lý luận》 có viết: “Thương hàn tà ở biểu, tất phải làm cho hình thể ra mồ hôi (hãn); tà khí ở lý, tất phải tẩy rửa để thông lợi (hạ). Còn đối với tà không ở trong cũng không ở ngoài, tại bán biểu bán lý, vừa không nên dùng phép phát hãn, cũng không hợp với phép thổ, hạ, ấy là lúc nên dùng hòa giải thì sẽ khỏi.”

Thiếu dương chứng khác với Thái dương chứng, vì không phải biểu chứng nên cấm dùng phát hãn; cũng khác với Dương minh chứng, vì tà vào lý chưa thành thực chứng nên cấm dùng công hạ; ngoài ra, dù có chứng ngực đầy nhưng không giống như có hình đàm, nên cấm dùng phép dũng thổ. Hơn nữa, do tà của Thiếu dương chứng ở bán biểu bán lý, hàn nhiệt thay thế nhau xuất hiện, nên cũng không nghiêng về dùng các phép “Ôn, Thanh, Bổ, Tiêu”.

Như vậy, trong “Bát pháp” đã loại bỏ 7 pháp, chỉ còn lại một chữ “Hòa”. Xét về tông chỉ của các phép, không gì là không lấy “Hòa” làm mục đích. Bệnh cơ của Thiếu dương chứng là khu cơ bất lợi, vì vậy hòa giải khu cơ đã trở thành phương pháp điều trị chính cho Thiếu dương chứng.

Ở thời điểm Thiếu dương chứng, dương khí của Thiếu dương mới bắt đầu thăng, khí còn yếu, nên dương khí của cơ thể người tương đối suy, vì vậy cần phù chính; lại gặp ngoại tà từ biểu vào lý, nên cần thêm khứ tà. Do đó, đối với Thiếu dương chứng, nguyên tắc điều trị tổng quát là phù chính và khứ tà song hành: bên trong tăng cường binh lực, chặn đứng bệnh tà tại Thiếu dương, tránh để tà nhập Dương minh gây ra chứng Dương minh phủ thực; bên ngoài tiêu trừ mọi tà khí.

Thực tế, từ xưa đến nay, các y gia qua các thời đại chưa bao giờ ngừng nghiên cứu về “Hòa pháp”. Có người nói “Hòa pháp” là phép ở ngoài các phép, nội hàm và ngoại diện của nó đến nay vẫn chưa có định luận cuối cùng. Tra cứu tài liệu cho thấy, nhiều y gia cho rằng: “Hòa pháp” của 《伤寒论 – Thương hàn luận》 dựa trên âm dương, biểu lý, thủy hỏa, hư thực, ý nghĩa lập luận của nó cao thâm, thực sự không thể đặt ngang hàng với 7 pháp còn lại.

Trong cuốn 《伤寒杂病论 – Thương hàn tạp bệnh luận》, các điều văn đề cập đến Tiểu sài hồ thang tổng cộng có 23 điều, rải rác ở các chương “Thái dương”, “Dương minh”, “Thiếu dương”, “Quyết âm”, “Sai hậu lao phục”… Kết hợp với chủ trị hòa giải Thiếu dương của Tiểu sài hồ thang, chúng ta có thể hiểu : “Hòa giải Thiếu dương” có nghĩa hẹp và nghĩa rộng.

  • Nghĩa hẹp chỉ bệnh tà nằm ở bán biểu bán lý của Thiếu dương;
  • Nghĩa rộng chỉ bất luận là bệnh ở Thái dương, Dương minh, Thiếu dương, Quyết âm, hay các loại tạp chứng ngoại cảm nội thương, không phân biệt nam nữ già trẻ, hễ có “Thiếu dương bệnh” (cơ chế bệnh tương tự) thì đều có thể dùng.

Đúng như định nghĩa về “Hòa pháp” trong sách 《方剂学 – Phương tễ học》: “Thông qua phương pháp hòa giải và điều hòa, làm cho tà ở bán biểu bán lý hoặc các chứng tạng phủ âm dương biểu lý thất hòa được giải trừ. Phù hợp cho các chứng tà phạm Thiếu dương, can tỳ bất hòa, hàn nhiệt thác tạp, biểu lý đồng bệnh…”

Phân tích phối ngũ

Đối với y gia, sau khi có nguyên tắc điều trị, việc còn lại là phối ngũ phương thuốc. 

Trong Tiểu sài hồ thang có tổng cộng 7 vị thuốc, toàn phương dùng kết hợp cả hàn và nhiệt, có bổ có tả, đối với ngoại cảm có thể giải cả biểu lẫn lý, đối với nội thương tạp bệnh cũng có thể điều hòa phối hợp.

Theo nguyên tắc “Quân – Thần – Tá – Sứ”:

  • Quân dược: Sài hồ. Sài hồ vị đắng, tính hơi hàn, vào kinh Can, Đởm, giúp thấu tiết Thiếu dương chi tà, đồng thời có thể sơ tiết khí cơ uất trệ, khiến tà khí ở bán biểu của Thiếu dương được sơ tiết ra ngoài.
  • Thần dược: Hoàng cầm. Hoàng cầm vị đắng tính hàn, quy kinh Phế, Đởm, Tỳ, giúp thanh tiết nhiệt ở bán lý của Thiếu dương, lại chủ về giáng tiết. Phối hợp với Sài hồ có tính thăng tán, tạo thành một thăng một giáng, một tán một thanh, là cấu trúc cơ bản để hòa giải Thiếu dương.
  • Tá dược: Bán hạ, Sinh khương và Nhân sâm, Đại táo.
    • Nhóm thứ nhất: Bán hạ, Sinh khương đều quy kinh Tỳ, Vị. Trong đó Bán hạ vị cay tính ấm, táo thấp hóa đàm, giáng nghịch chỉ ẩu; Sinh khương vị cay tính ấm giúp giải biểu, ôn trung chỉ ẩu. Hai vị dùng chung có thể trị chứng vị thất hòa giáng do đởm khí phạm vị.
    • Nhóm thứ hai: Nhân sâm vị ngọt tính ấm, giúp phò chính để khứ tà; Đại táo vị ngọt tính ấm, ích khí để chống lại bệnh tà truyền vào bên trong. Nếu chứng Thiếu dương là do tà từ Thái dương truyền vào, lúc này chính khí vốn hư, mà Nhân sâm, Đại táo có thể ích khí kiện tỳ, khiến tà không có cơ hội xâm nhập vào sâu hơn.
  • Sứ dược: Cam thảo. Cam thảo vị ngọt, một là trợ giúp Nhân sâm, Đại táo phò trợ chính khí, hai là điều hòa các vị thuốc.

Toàn phương các vị hợp dùng, giúp phò chính khứ tà, lý khí hòa vị, tả nhiệt trừ phiền, giáng nghịch chỉ ẩu, làm cho thượng tiêu được thông, tân dịch được xuống, cơ thể xuất mồ hôi râm rấp mà khỏi.

Từ xưa đến nay, y gia các đời không ngừng khám phá bệnh cơ và phương nghĩa của Tiểu sài hồ thang, nỗ lực tiếp cận ý nguyện lập phương ban đầu của Trọng Cảnh. Tuy nhiên khi lâm sàng vẫn cần “quan kỳ mạch chứng, tri phạm hà nghịch, tùy chứng trị chi” (xem mạch và chứng đó, biết mắc phải sai lầm gì, tùy theo chứng mà trị), thực sự đạt đến biện chứng luận trị, chọn thuốc linh hoạt, để Tiểu sài hồ thang trở thành lưỡi gươm sắc bén bảo vệ cơ thể.

Cách dùng

Nguyên phương yêu cầu “khứ tử tái tiên” (bỏ bã rồi sắc lại), giúp dược tính trở nên thuần hòa hơn, lượng nước thuốc ít hơn, vừa nâng cao khả năng tuân thủ uống thuốc của bệnh nhân, vừa giảm kích ứng của nước thuốc đối với dạ dày, tránh việc đình ẩm gây nôn.

Ứng dụng lâm sàng và chủ trị

Chủ trị: Vãng lai hàn nhiệt, hung hiếp khổ mãn, mặc mặc bất dục ẩm thực, tâm phiền hỷ ẩu, khẩu khổ (đắng miệng), yết can (khô họng), mục huyễn (hoa mắt), rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền.

Qua tra cứu tài liệu liên quan, các tình huống vận dụng Tiểu sài hồ thang trong 《伤寒杂病论 – Thương hàn tạp bệnh luận》 của Trương Trọng Cảnh có 13 loại sau:

  • Vãng lai hàn nhiệt, không muốn ăn hoặc không thể ăn, nôn hoặc nôn khan.
  • Ngực sườn đầy đau, mạch phù tế.
  • Đau đầu phát nhiệt, mạch huyền tế.
  • Nôn mà phát nhiệt.
  • Sau khi thương hàn đã khỏi, lại phát nhiệt.
  • Nhiệt nhập huyết thất, kinh nguyệt vừa dứt.
  • Trong bụng đau, dương mạch sáp, âm mạch huyền.
  • Ngực sườn đầy, triều nhiệt, hoặc nôn, hoặc đại tiện lỏng.
  • Trong ngực đầy, phiền, mắt đỏ, hai tai không nghe thấy gì.
  • Dưới sườn đầy, phát nhiệt, tay chân ấm, miệng khát.
  • Dưới sườn cứng đầy, nôn mửa, rêu lưỡi trắng, không đại tiện.
  • Dưới sườn và vùng tim đau, bụng đầy, triều nhiệt, không mồ hôi, mạch phù.
  • Tâm hạ đầy, không muốn ăn, ố hàn, tay chân lạnh, mạch trầm khẩn (tức chứng dương vi kết).

Cùng với sự phát triển của y học hiện đại và sự nghiên cứu sâu sắc của các học giả, chỉ định lâm sàng của Tiểu sài hồ thang cũng không ngừng mở rộng. Hiện nay, Tiểu sài hồ thang không còn đơn thuần dùng cho các bệnh lý phát sốt, mà còn có hiệu quả rất tốt đối với hệ tiêu hóa, hệ nội tiết, hệ hô hấp, hệ tim mạch và mạch máu não…

Những năm gần đây cũng có ghi chép dùng để điều trị khối u và các bệnh hệ thống huyết học. Trên lâm sàng, chỉ cần nắm chắc bệnh cơ, bắt đúng tinh túy của phương này, là có thể đạt được “dị bệnh đồng trị” (bệnh khác nhau nhưng cùng cách trị), vận dụng nó vào điều trị các loại bệnh chứng – ví dụ, trong phương thuốc chuyên dụng Thanh phế bài độc thang điều trị viêm phổi do vi-rút Corona chủng mới, có bao hàm phương nền của Tiểu sài hồ thang.

Trương Trọng Cảnh cả đời sáng tạo ra rất nhiều phương tễ, đều được hậu thế lưu truyền rộng rãi. Tiểu sài hồ thang với tư cách là một trong những thiên cổ danh phương được ứng dụng rộng rãi nhất, đến nay vẫn chiếm giữ vị trí quan trọng trong kho tàng y học ccổ truyền. Kế thừa kinh điển, thấu hiểu bản ý của Trọng Cảnh, việc nghiên cứu và khám phá của các y gia đối với Tiểu sài hồ thang vẫn còn là một chặng đường dài phía trước.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chỉ mục