Y học cổ truyền bàn về “đánh rắm – xì hơi”

Từ xưa tới nay bất kể nam hay nữ đều bị xì hơi, đó là hiện tượng sinh học của con người. Tuy nhiên ở nơi công cộng, họ không dám xì hơi vì xấu hổ, sợ bị người khác cười chê. Không xì hơi thì lại khó chịu vì bị bí bách, rất chi là lúng túng. Xì hơi cũng rất đặc trưng ở mỗi người. Có người xì hơi có tiếng, có người có mùi khó chịu, có người liên tục xì hơi. Xì hơi hay đánh rắm đông y gọi là trung tiện, thỉ khí, thất khí. Xem xét vấn đề trung tiện bên cạnh tiểu tiện (đi tiểu, đi tè) và đại tiện là tam tiện quan trọng trong chẩn đoán bệnh lý. Cùng DUPOMA tìm hiểu “đánh rắm – xì hơi” dưới góc nhìn của Y học cổ truyền.

“Đánh rắm – xì hơi” trong đông y

Y học cổ truyền dùng trung tiện, thỉ khí, thất khí để diễn tả hiện tượng khí thoát ra từ hậu môn.

Thỉ khí được nhắc đến sớm từ《伤寒论·辨阳明病脉证并治 – Thương hàn luận.Biện Dương minh bệnh mạch chứng tính trị》. Thánh Y Trọng Cảnh đã dùng phép thử chuyển thỉ khí để phân biệt khi nào Dương minh bệnh chứng dùng được Đại thừa khí thang.

Thất khí được nhắc đến từ 《素问·咳论 – Tố vấn.Khái luận》khi bàn về chứng ho do lục phủ ngũ tạng: tiểu trường khái trạng, khái nhi thất khí. (Ho ở tiểu trường biểu hiện ho kèm xì hơi).

Thỉ khí thực chất thuộc về chức năng Tỳ vị. Là phần trọc khí của quá trình vận hóa thủy cốc. Do đó luận về thỉ khí có thể nói là luận về khí cơ thăng giáng của Tỳ vị.

Quan điểm Tiểu trường – Đại trường

Nếu như Tây y cho rằng việc trung tiện có liên quan mật thiết đến loại đồ ăn thức uống, hệ vi sinh vật đường ruột và nhu động ruột thì Đông y cũng có những nét tương đồng.

“Tiểu trường giả thụ thịnh chi quan, hóa vật xuất yên” ý chỉ tiểu trường là nơi tiêu hóa đồ ăn, tinh chấp do đồ ăn hóa thành sẽ đi ra từ tiểu trường đến các nuôi dưỡng các tạng. Phần thanh được hấp thu để nuôi dưỡng cơ thể, phần trọc được đẩy xuống đại trường.

Đại trường là nơi tiếp nhận bã thức ăn sau khi đã chuyển hóa và hấp thu dinh dưỡng ở Tiểu trường. “Đại trường giả, truyền đạo chi quan, biến hóa xuất yên” ý chỉ đại trường truyền dẫn chất cặn bã ra ngoài. Công năng này có được một phần vì đại trường biểu lý với phế, phế khi đưa xuống nên có thể truyền dẫn.

Thỉ khí là phần trọc khí đi ra từ hậu môn đương nhiên liên quan trực tiếp tới Tiểu trường – Đại trường.

Quan điểm Dương minh bệnh trong Thương hàn luận

Thánh y Trọng Cảnh dùng phép thử “chuyển thỉ khí” cho rằng

  • Thứ nhất, “chuyển thỉ khí giả, thử hữu táo thỉ dã” (người bệnh thải ra rắm, thì có táo thỉ). Có táo thỉ là Dương Minh phủ thực chứng.
  • Thứ hai, “bất chuyển thất khí giả, thử đãn sơ đầu kiên, hậu tất thang, bất khả công chi” (người bệnh không thải ra rắm, thì chỉ là đầu phân cứng, sau tất lỏng, không thể công hạ). Đầu phân cứng sau lỏng là biểu hiện lâm sàng của Tỳ hư.

Quan điểm của Trọng Cảnh gốc của các bất thường thỉ khí liên quan đến Dương minh Vị và Dương minh đại trường – Dương minh bệnh chứng.

Biện chứng bệnh căn và bệnh cơ của Thỉ khí (xì hơi – đánh rắm)

Thực tích nội đình, khí cơ trở trệ

Một số y gia cho rằng Thực tích (ứ đọng thức ăn) là một trong những nguyên nhân chính gây ra thỉ khí.

  • 《厘正按摩要术·卷四·食积 – Li chính án ma yếu thuật》: Do thức ăn tích trệ, gây tức ngực, sôi bụng, ợ chua hôi thối, bụng chướng đau, đại tiện hôi thối, thỉ khí có mùi.
  • 《经方实验录·奔豚 – Kinh phương thực nghiệm lục. Bôn đồn》: Căn nguyên của chứng bôn đồn chính là trong đường ruột có nhiều thỉ khí sinh ra do thức ăn thừa chưa tiêu hóa hết lên men và phân giải. Khí thừa được đẩy ra ngoài bụng sẽ bớt chướng dần. Dùng bài Hậu phác sinh khương cam thảo bán hạ nhân sâm thang rất hiệu quả. nhân sâm, sinh khương, bán hạ có tác dụng kiện vị, giáng nghịch, tạo thế ‘đổ nước từ trên cao’; hậu phác, cam thảo có tác dụng trục uế, an chính, giúp bài thuốc vừa công vừa bổ. Sau khi uống thuốc, người bệnh xì hơi nhiều, khi xì hơi hết tình trạng đầy chướng sẽ giảm đi.

Khí hư hạ hãm, thanh dương bất thăng

Đông y cho rằng tỳ chủ thăng, vị chủ giáng. Tỳ lấy thăng làm kiện, Vị lấy giáng làm hòa. Tỳ khí không thăng thì trung khí hạ hãm, dồn xuống hạ tiêu sinh ra thỉ khí.

《医宗金鉴·卷四十一·诸气辨证 – Y tông kim giám. Chư khí biện chứng》: Trọc khí thượng nghịch dùng bài thuốc Tô tử giáng khí thang; thanh khí hạ hãm dùng Bổ trung ích khí thang, nặng có thể gia Kha tử, Ngũ vị tử… Uất tại vị thì ợ hơi, uất ở ruột thì xì hơi.

Can uất khí trệ, Can Tỳ bất điều

Can chủ sơ tiết, làm thông suốt khí cơ toàn thân. Nếu Can khí không thư thái, khí cơ bĩ tắc sẽ ảnh hưởng đến Tỳ thổ

《名师垂教·泄泻腹痛反复发作10余年 – Danh sư thùy giáo》: Can uất tỳ hư chứng biểu hiện gồm tiêu chảy, chướng đau bụng vùng mạn sườn, ợ hơi, xì hơi, tiêu chảy thường nặng hơn khi xúc động hoặc tức giận. Phép trị là Ức can phù tỳ dùng Thông tả yếu phương và các bài thuốc tương tự. Can mộc khắc tỳ thổ, tỳ vị hư nhược thì tiết tả, khí cơ bĩ tắc hạ hãm sinh thỉ khí.

Hư thực giáp tạp, khí cơ trở trệ

Trong điều trị chứng Tiện bí, triệu chứng hậu trọng (căng tức nặng vùng hạu môn trực tràng), sôi bụng, xì hơi nhiều là biểu hiện của chứng tỳ hư dẫn đến khí trệ, thủy đình. Phương thuốc điều trị là Linh quế truật cam thang gia cần gia thêm Chỉ truật hoàn để lý khí đạo trệ. Thỉ khí là một dấu hiệu cần lưu ý trong thực hành lâm sàng.

Người bị tiêu chảy lâu ngày nếu sau khi xì hơi thì bụng mới giảm chướng hoặc giảm đi tiêu chảy thì không nên câu nệ theo quan niệm “bạo tả đa thực, cửu tả đa hư” (tiêu chảy cấp phần đa là thực chứng, tiêu chảy lâu ngày phần đa là hư chứng). Cần lấy “thông” làm nguyên tắc điều trị.

Thỉ khí nhiều chủ yếu là do khí cơ không thông, chức năng vị – trường rối loạn sinh ra. Tuy nhiên, cũng không thiếu trường hợp liên quan đến sự thất chức của các tạng phủ khác.

Phế khí không giáng, Can khí thăng phát quá mức gây nghịch khí. Tà khí hoành nghịch xâm phạm, mộc mất sự kính sợ kim ngược lại còn phản ngược lại kim vì vậy khí phí trên hoành cách mạc không xuống, khí dưới hoành cách mạc lại bốc lên, tranh chấp nhau quẩn quanh ở vùng mạn sườn. Chỉ đến khi xì hơi được mới thấy khoan khoái dễ chịu. Rõ ràng nếu Can – Phế không thuận thì khí cơ không thông, thỉ khí sẽ khiến khí cơ được sắp xếp lại.

Trong《素问·通评虚实论 – Tố vấn.Thông bình hư thực luận》: Ngũ tạng bất hòa là do lục phủ bế tắc không thông gây ra. Đau đầu, ù tai, cửu khiếu bất lợi là do bệnh tràng vị gây ra.

《金匮要略 – Kim quỹ yếu lược》: Chớ để cửu khiếu (mắt, tai, mũi, miệng, niệu đạo, hậu môn) bế tắc. Thỉ khí cũng là một trong các khí đi ra từ một trong cửu khiếu (hậu môn).

Y học hiện đại cho rằng xì hơi là dấu hiệu sinh lý của con người nhất là sau phẫu thuật để đánh giá mức độ hồi phục và tái thông đường tiêu hóa.

《王旭高临证医案卷之三·痰喘门 – Vương Húc Cao lâm chứng y án. Đàm suyễn môn》: Có một ca bệnh dùng Lục vị địa hoàng thang hợp Sinh mạch tán, gia Thanh diên để trị chứng phát bệnh: người bệnh mỗi khi lao lực xong thì trước tiên trung tiện liên tục, sau đó khí nghịch bốc lên, hơi thở ngắn gấp như suyễn, nhưng ăn uống và đại tiểu tiện vẫn bình thường. Tác giả cho rằng thận chủ nạp khí, khai khiếu ở nhị âm, nên phép trị lấy bổ thận nạp khí làm đại pháp.

Vì vậy, các y gia đời sau cần xem xét tường tận bệnh cơ, biện chứng chính xác, vận dụng phép trị linh hoạt, coi trọng công năng thăng thanh giáng trọc của tỳ vị, vai trò điều phối của khí trung châu. Khi khí cơ thăng giáng điều hòa, thì tự nhiên đạt được hiệu quả tà lui, bệnh khỏi.

Phân biệt chứng hậu thông qua biện chứng trung tiện

Từ xưa đến nay, các bác sĩ chẩn đoán lâm sàng đều dựa vào Vọng, Văn, Vấn, Thiết (nhìn, nghe, hỏi, bắt mạch), hỏi về hàn nhiệt, biểu lý, nhưng hiếm có bác sĩ nào đặt rắm lên vị trí hàng đầu trong chẩn đoán, ngay cả “Thập Vấn Ca” nổi tiếng cũng không đề cập đến. Đây là một thiếu sót trong y đạo.

Thực rắm

Đa phần do nội nhiệt. “Thực rắm đa nhiệt, nhiệt rắm đa thực” ý chỉ loại rắm có tiếng vang rền, mùi rất khó ngửi.

Nhiệt rắm có tiếng kêu lớn, gấp gáp và mùi hôi thối, người khác không thể lại gần, thường kèm theo các triệu chứng như hôi miệng, mặt đỏ, mạch hồng đại. Rắm hôi là do túc thực (thức ăn cũ), táo phách (bã thức ăn), trường cấu (cặn ruột) tích tụ lâu ngày hóa nhiệt mà sinh ra khí.

Loại khí này có độc, nếu không được chú trọng và điều trị lâu dài, ban đầu là viêm đại tràng, nếu vẫn không điều trị, có thể gây sưng hậu môn, hậu môn hẹp lại, phân thải ra chỉ nhỏ như chiếc đũa, cuối cùng đại tiện khó khăn, thậm chí không đi được. Khi phân không được đào thải ra ngoài thì khí cũng không ra được, khí nghịch gây chướng mãn bụng dưới. Khí đi từ rốn bên trái lên trên, gây đau ở bên trái rốn, gọi là khí trào ngược đại tràng (đại trường phản lưu khí). Đi lên nữa, thường đau dưới lá lách bên trái, người dễ đói, muốn ăn, ăn xong lại bị chướng, hình thành bĩ mãn (bụng đầy tức).

Nếu khí vẫn không tiêu tan, khí còn tiếp tục đi lên, đau đến dưới vú bên trái, giao hội với đại lạc của vị (dạ dày), vị khí không giáng, bĩ khí không giáng, tuyến vú to lên, hình thành nhũ hạch, nhũ tích.

Khí hóa trung tiện thực sự không đơn giản, thực nhiệt nếu kết hợp với thấp có thể dẫn đến hoàng đản, lỵ, long bế,… cần biện chứng chẩn trị hết sức thận trọng.

Với các trường hợp thực rắm nên dùng các thuốc tiêu thực, kiện tỳ, than can, đạm lợi thấp nhiệt.

Hư rắm

Hư rắm phần nhiều thuộc hàn, tiếng thường nhỏ, không hôi hoặc hôi nhẹ. Thường gặp ở những người thận dương hư kiêm chứng bệnh Thái dương gọi là lưỡng cảm. Khi ngoại cảm trên nền hư chứng, không thể phát sốt cao, uất nhiệt hóa khí, khí không có đường ra chỉ có thể theo kinh mà vào trong, quy về đại tràngm khí đầy thoát ra ngoài thành trung tiện. Người thường mệt mỏi, sợ lạnh, chân tay lạnh…

Các trường hợp này nên tư bổ can thận kết hợp ôn dương, ăn các thực phẩm bổ dương như thịt dê…

Nhiệt rắm

Biểu hiện: Khi thoát ra có cảm giác nóng rát ở vùng hậu môn.

Nguyên nhân: Do gần đây ăn quá nhiều thực phẩm cay nóng, tính táo nhiệt như ớt, hạt tiêu, thịt cừu… dẫn đến Nhiệt tà tích tụ trong cơ thể gây khó chịu cho đường ruột.

Nên điều chỉnh chế độ ăn, tránh ăn liên tục đồ cay nóng. Ưu tiên các thực phẩm thanh nhiệt tư âm như đậu xanh, bí đao, dưa hấu để giữ môi trường đường ruột ổn định.

Hàn rắm

Biểu hiện: Thường kèm theo cảm giác lạnh bụng, sợ lạnh, đôi khi có triệu chứng tiêu chảy.

Nguyên nhân: Do Tỳ Vị hư nhược, Hàn tà xâm nhập khiến chức năng vận hóa giảm sút, thức ăn không được tiêu hóa bình thường sinh ra khí mang tính hàn. Ăn quá nhiều đồ sống lạnh cũng là nguyên nhân gây ra loại rắm này.

Cần chú ý giữ ấm bụng, tránh để bụng bị nhiễm gió lạnh. Ăn đồ ấm nóng, dễ tiêu như cháo kê, hoài sơn, hồng táo và giảm đồ sống lạnh. Có thể kết hợp Đông y điều lý Tỳ Vị để cải thiện tình trạng này.

Rắm vang

Tiếng vang lớn như loa phóng thanh nhưng không quá hôi. Điều này cho thấy đường ruột không bị kết tụ, phân cũ ít, tương đối thông suốt. Tuy nhiên nếu vừa vang vừa hôi thì có nhiệt trong trường vị.

Nếu rắm kêu quá thường xuyên kèm theo táo bón, chướng bụng, đó có thể là dấu hiệu của các bệnh tiêu hóa như hội chứng ruột kích thích, rối loạn chức năng dạ dày – ruột. Lúc này, bạn nên điều chỉnh cấu trúc chế độ ăn, tránh ăn quá nhiều thực phẩm sinh khí và hình thành thói quen ăn uống tốt để dạ dày được nghỉ ngơi.

Không trung tiện thường xuyên

Những người bình thường không trung tiện, ăn uống tốt, nhưng có thể vào một lúc nào đó, “pằng pằng” xì ra vài cái rắm rồi thôi, gọi là “đoạn thí”. Những người trưởng thành có loại rắm này cũng là rắm bình thường.

Tuy nhiên nếu trẻ nhỏ có loại rắm này thì đó là dấu hiệu trường vị tích nhiệt. Có những đứa trẻ bị giật mình khóc thét vì một cái rắm lớn. Nếu cha mẹ không chú trọng đến tình trạng này lâu ngày, trẻ dễ bị trường vị bất thông (tắc nghẽn) xuất hiện các triệu chứng đổ mồ hôi ban đêm, ngủ không yên, hay mơ, nói mớ, nghiến răng, hiếu động, không vâng lời, mất tập trung, trí nhớ kém. Tây y gọi đây là rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD), nhưng đông y cho rằng đa số trường hợp là do nội nhiệt. Những đứa trẻ này thường nghịch ngợm, gây rối trong trường học, thậm chí cáu gắt, hung hăng, cắn người, cào người, đánh người… Với những trường hợp này cha mẹ nên cho trẻ đi khám sớm.

Trung tiện không tiếng

Một số người xì hơi không có tiếng, gọi là “mẫn rắm” (rắm kín) hay “ách rắm” (rắm câm). Ách rắm rất hôi, đó là do đại tràng có tích nhiệt, nên rất thối. Y học hiện đại cho rằng chủ yếu do vi khuẩn có hại trong đường ruột gia tăng, phân hủy thức ăn thừa tạo ra các khí độc như Hydrogen Sulfide, Indole… Mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột có thể liên quan đến chế độ ăn uống không hợp lý, dùng kháng sinh dài ngày hoặc suy giảm miễn dịch.

Tình trạng này không gây nguy hiểm lớn, nhưng đáng sợ là để lâu ngày không giải quyết sẽ dẫn đến bệnh nặng. Nếu thường xuyên có rắm kín kèm đau bụng, tiêu chảy, cần cảnh giác với tình trạng loạn khuẩn đường ruột. Bạn nên tăng cường chất xơ để thúc đẩy nhu động ruột; nếu cần thiết, hãy bổ sung lợi khuẩn (Probiotics) như Bifidobacterium, Bacillus subtilis dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.

Không trung tiện hoặc trung tiện không thoải mái

Nếu không có rắm để xì hoặc xì hơi không thoải mái, thường là dấu hiệu tạng phủ không thông, là biểu hiện của bệnh tật. Những người này sống không thoải mái, mọi việc không như ý, dễ nổi nóng, bụng chướng sau khi ăn, đại tiện không sảng khoái, phân dính. Đây là tình trạng ruột có thấp nhiệt. Thấp nhiệt lâu ngày không giải phóng có thể dẫn đến khí trệ trường cấu, đại tiện không thông sinh bệnh ở đường ruột.

Rắm liên hoàn

Thường do tiêu hóa, loét dạ dày. Nếu không có khó chịu khác thì chỉ cần ăn uống thanh đạm, giữ tâm trạng thoải mái. Đông y cho rằng xì hơi bất thường đa phần là vấn đề của Tỳ Vị.

Là một hiện tượng sinh học bình thường của cơ thể, phản ánh tình trạng khí cơ và công năng tỳ vị. Tuy nhiên khi xuất hiện các bất thường về tính chất (mùi, tiếng) và tần suất thì thỉ khí chính là một trong các dấu hiệu cảnh báo các bệnh lý liên quan đến nhiều cơ quan trong cơ thể cần hết sức lưu tâm và xử lý sớm.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chỉ mục