Mùa Trường hạ trong Y học cổ truyền là mùa nào?

Trong ngũ hành, bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông tương ứng với Can, Tâm, Phế, Thận, vậy tạng Tỳ ứng với mùa nào? Thư tịch kinh điển 《黄帝内经 – Hoàng đế nội kinh》 đã chỉ rõ tạng Tỳ thông ứng với mùa Trường hạ. Hãy cùng DUPOMA tìm hiểu chi tiết thông qua nghiên cứu “Khảo biện về Trường hạ trong Đông y” của các tác giả thuộc Đại học Trung y dược Thành Đô để hiểu đúng về Trường hạ, từ đó ứng dụng hiệu quả các phương pháp dưỡng sinh, dùng thuốc trong lâm sàng và đời sống.

Nguồn gốc lịch sử của Trường hạ

Hai chữ “Trường hạ” (长夏) trong 《说文解字 – Thuyết văn giải tự》 được giải thích là: “Trường, cửu viễn dã” (Trường là lâu dài); “Hạ, Trung Quốc chi nhân dã” (Hạ là người vùng Trung Quốc). “Người vùng Trung Quốc” ở đây chỉ người vùng Trung Nguyên. Từ đó, chúng ta có thể biết rằng Trường hạ bao hàm một thông tin, đó chính là Trung Nguyên, Trung thổ. Mà Trung Nguyên chính là nơi dân tộc Trung Hoa “hóa sinh”, phát tường, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng. Do đặc tính chung của tư duy “thủ tượng tỷ loại” (lấy hình tượng để so sánh) và “thôi diễn lạc dịch” (suy luận liên tục) trong văn hóa Trung Hoa, điều này cho thấy Trường hạ có tầm quan trọng tương đương với Trung Nguyên và Trung thổ.

Trường hạ xuất hiện đầu tiên trong 《内经 – Nội kinh》. Trong học thuyết Ngũ hành, có năm hành Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy; y học cổ truyền phối hợp với năm tạng Can, Tâm, Tỳ, Phế, Thận; trong năm mùa phối hợp với năm mùa Xuân, Hạ, Trường hạ, Thu, Đông. Tỳ là gốc hậu thiên của cơ thể con người, ngũ hành thuộc Thổ, cư ở trung ương là Trung thổ, thông ứng với khí của Trường hạ, chủ khí là Thấp. Trong 《内经 – Nội kinh》 có rất nhiều ghi chép tương tự về Trường hạ, như 《素问 – Tố vấn · Tạng khí pháp thời luận》 viết: “Tỳ chủ Trường hạ” (sau đây các văn bản gốc của 《素问 – Tố vấn》 đều được trích dẫn từ bản 《黄帝内经素问 – Hoàng đế nội kinh tố vấn》 do Nhà xuất bản Y tế Nhân dân Bắc Kinh xuất bản năm 2005); 《素问 – Tố vấn · Lục tiết tạng tượng luận》 viết: “Xuân thắng Trường hạ, Trường hạ thắng Đông”; 《素问 – Tố vấn · Tứ thời thứ nghịch tòng luận》 viết: “Thị cố xuân khí tại kinh mạch, hạ quý tại tôn lạc, trường hạ khí tại cơ nhục”.

Đời sau, những người như Vương Băng, Trương Chí Thông đã tiến hành hiệu chú 《内经 – Nội kinh》, nhưng đối với định nghĩa về Trường hạ thì từ đầu đến cuối mỗi người một ý. Cho đến thời Kim Nguyên, Lý Đông Viên viết 《脾胃论 – Tỳ vị luận》, thì Trường hạ vốn thông ứng với tạng Tỳ mới ngày càng trở nên quan trọng. Thế nhưng Trường hạ với tư cách là một mùa quan trọng, về mặt thời gian vẫn luôn không có một ranh giới rõ ràng thống nhất, dẫn đến sự thịnh hành của nhiều phiên bản định nghĩa và sự hỗn loạn trong cách phân chia.

Các phương pháp phân chia về Trường hạ

Tháng sáu âm lịch, Quý hạ chính là Trường hạ

Vương Băng khi bổ chú 《素问 – Tố vấn》 có nói: “Cái gọi là Trường hạ, là tháng sáu vậy. Thổ sinh ở Hỏa, trưởng ở trong mùa Hạ, đã trưởng mà vượng. Cho nên gọi là Trường hạ”. Ông cho rằng Trường hạ là tháng sáu âm lịch. Thổ sinh từ Hỏa, nhờ khí mùa Hạ mà lớn mạnh, và được bao hàm ở trong mùa Hạ. Tác giả sách 《五运六气详解与应用 – Ngũ vận lục khí tường giải dữ ứng dụng》 dựa theo 《前汉律历志 – Tiền Hán luật lịch chí》, 《尔雅 – Nhĩ nhã》, 《礼记 – Lễ ký · Nguyệt lệnh》, 《乐记 – Nhạc ký》, 《释名 – Thích danh》, 《说文 – Thuyết văn》 để giải thích rằng: “Trường giả, sinh trưởng dã. Ngôn thổ sinh ư trường hạ dã” (Trường là sinh trưởng. Nói Thổ sinh ở Trường hạ vậy).

Sách 《中华医学大辞典 – Trung Hoa y học đại từ điển》chép: “Hạ lục nguyệt dã. Hạ vi thổ mẫu, sinh trưởng ư trung, dĩ trưởng nhi trị, cố danh” (Là tháng sáu mùa Hạ. Hạ là mẹ của Thổ, sinh trưởng ở trong đó, nhờ trưởng mà cai trị, nên có tên như vậy). Ngoài ra, 《春秋繁露 – Xuân thu phồn lộ · Ngũ hành đối》 có viết: “Thủy vi Đông, Kim vi Thu, Thổ vi Quý hạ, Hỏa vi Hạ, Mộc vi Xuân”. Do đó, đời sau tồn tại thuyết pháp Quý hạ chính là Trường hạ.

Trường hạ là từ Hạ chí đến Xử thử

Trong giáo trình quy hoạch “Năm năm lần thứ 11” toàn quốc 《中医基础理论 – Trung y cơ sở lý luận》, đã dùng phương pháp đánh dấu bằng Hai mươi tư tiết khí để chỉ rõ khoảng thời gian của Trường hạ: “Ngũ tạng ứng tứ thời, Tỳ thông ứng với ‘Trường hạ’ (Hạ chí — Xử thử) nằm ngoài bốn mùa.” 

Một năm 360 ngày, năm mùa, mỗi mùa 72 ngày, Trường hạ thuộc hệ thống lịch mười tháng

《素问 – Tố vấn · Âm dương ly hợp luận》 viết: “Thiên nhật vi dương, địa nguyệt vi âm, đại tiểu nguyệt tam bách lục thập nhật thành nhất tuế”. Điều này cho thấy thời bấy giờ có một hệ thống lịch pháp tính một năm có 360 ngày.

《素问 – Tố vấn · Tạng khí pháp thời luận》 chép: “Hoàng Đế hỏi rằng: ‘Hợp nhân hình dĩ pháp tứ thời ngũ hành nhi trị, hà như nhi tòng, hà như nhi nghịch?’ Kỳ Bá đáp: ‘Can chủ Xuân, túc Quyết âm Thiếu dương chủ trị. Ngày của nó là Giáp Ất… Tâm chủ Hạ, thủ Thiếu âm Thái dương chủ trị. Ngày của nó là Bính Đinh… Tỳ chủ Trường hạ, túc Thái âm Dương minh chủ trị. Ngày của nó là Mậu Kỷ… Phế chủ Thu, thủ Thái âm Dương minh chủ trị. Ngày của nó là Canh Tân… Thận chủ Đông, túc Thiếu âm Thái dương chủ trị. Ngày của nó là Nhâm Quý. Thận khổ táo, cấp thực tân dĩ nhuận chi, khai tấu lý, trí tân dịch, thông khí dã'”. Trong đó Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý được gọi là Thập can, người xưa dùng thứ này để ghi năm, ghi tháng, ghi giờ. Cách phân chia này từng được báo cáo trong nghiên cứu của Hác Bảo Hoa. Người xưa dùng lịch mười tháng để chia đều một năm thành năm mùa, thời gian mỗi mùa bằng nhau. Nếu tính một năm có 360 ngày, thì mỗi mùa có 72 ngày, trong đó Trường hạ cũng được chia riêng thành một mùa, một năm năm mùa phối hợp với ngũ hành.

Trường hạ có danh không có thực

Có học giả cho rằng: “Thừa nhận Trường hạ, nhưng cho rằng có danh không có thực, tác dụng của nó ảnh hưởng tiềm tàng đến bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông trong năm, thậm chí thừa nhận Trường hạ chủ Tỳ, thời gian cũng là 72 ngày, nhưng không có sự phân chia cụ thể, mà được phân rã một cách vô hình vào trong bốn mùa của một năm.” 

Trường hạ chia nhau làm chủ 18 ngày cuối của mỗi mùa trong bốn mùa

《素问 – Tố vấn · Thái âm dương minh luận》 viết: “Tỳ giả thổ dã, trị trung ương, thường dĩ tứ thời trường tứ tạng, các thập bát nhật ký trị, bất đắc độc chủ ư thời dã”. Dựa vào đây, có người đưa ra ý kiến: Trường hạ chia nhau làm chủ 18 ngày cuối cùng của bốn mùa.

Thảo luận

Tháng sáu, Quý hạ đều không thể giải thích chính xác về Trường hạ

Đối với cách phân chia thứ nhất, lời chú giải của hai nhà nói trên có đạo lý nhất định. Ở đây chữ “Trường” (长) nên đọc là “trưởng” (zhǎng) chứ không phải là “trường” (cháng). Lời chú giải của Vương Băng cũng phải đọc là “trưởng” thì ngữ nghĩa mới thông suốt. Phát âm này nhằm biểu thị rằng, trong ba tháng mùa Hạ, cỏ cây tươi tốt, vạn vật kết quả, đến tháng sáu âm lịch sẽ đạt đến trạng thái “vượng”. Thứ hai, tháng sáu ở đây đại diện cho thời điểm vạn vật kết quả, thấp khí tích tụ bên trong, chứ không chỉ một khoảng thời gian cụ thể của một mùa. Ý của Vương Băng nên được hiểu từ tầng hàm nghĩa sâu xa, chứ không phải giải thích bằng một khoảng thời gian tuyến tính.

Ngoài ra, Đổng Trọng Thư trong 《春秋繁露 – Xuân thu phồn lộ · Ngũ hành đối》 có viết: *”Thủy vi Đông, Kim vi Thu, Thổ vi Quý hạ, Hỏa vi Hạ, Mộc vi Xuân”*. 《礼记 – Lễ ký · Minh đường vị》 có viết: *”Quý hạ lục nguyệt, dĩ đế lễ tự Chu Công ư Đại miếu”*. Vậy thì vào thời Tiên Tần, “Quý hạ tháng sáu” chính là Trường hạ của đời sau? Người xưa chia mỗi mùa thành ba tháng, tức Mạnh nguyệt, Trọng nguyệt, Quý nguyệt. Tháng thứ ba của mùa Hạ chính là Quý hạ, về ngày tháng thực tế là tháng sáu. Tóm lại, Quý hạ tháng sáu trải qua hai tiết khí Mang chủng và Hạ chí, là lúc vạn vật chín muồi và thu hoạch, người xưa tiến hành tế lễ sau vụ mùa bội thu, ý muốn nói về mùa gặt hái. Còn thuyết “Thổ vi Quý hạ” là kết quả của việc Trâu Diễn, Đổng Trọng Thư tiến hành cải tạo chính trị đối với học thuyết Ngũ hành. Do đó, tháng sáu và Quý hạ đều không thể giải thích chính xác về Trường hạ.

Cách phân chia Hạ chí — Xử thử khá khiên cưỡng

Nguyên nhân có hai:

Thứ nhất, chủ khí của Trường hạ là Thấp. Lúc giao mùa Hạ và mùa Thu, mưa còn nhiều, hơi nóng bốc lên thì nước được khí hóa mà thành Thấp. Mà Xử thử có nghĩa là: thời tiết nắng nóng chấm dứt. Nhưng điều này không có nghĩa là hơi nước mất đi động lực hóa Thấp. Sau tiết Xử thử, cái khí nắng nóng (thử nhiệt) vẫn còn, khí kim thu đang dần lên, từ Xử thử đến Bạch lộ, mặt mâu thuẫn chủ yếu dần chuyển từ khí nóng, ẩm, thấp sang khí táo của kim thu. Mà “phải đợi đến lúc Bạch lộ thì thời tiết mới mát mẻ, ban đêm sương mù kết thành giọt sương trên cỏ”, từ góc độ vật hậu học đã chứng minh rằng thấp tà giữa trời đất vẫn còn tồn tại. Do đó, chỉ riêng từ trạng thái biến đổi khí giao của đất trời lúc “Xử thử” và “Bạch lộ” đã có thể làm bằng chứng cho thấy việc dùng tiết khí để phân chia Trường hạ tồn tại vấn đề nhất định.

Thứ hai, Hai mươi tư tiết khí với tư cách là lịch pháp bổ sung để chỉ đạo nông nghiệp được hình thành sơ khai vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, sau khi không ngừng phát triển và hoàn thiện, đã được định ra thành lịch pháp vào đầu năm Tây Hán bởi 《太初历 – Thái sơ lịch》. Trong khi đó, 《内经 – Nội kinh》 ra đời vào thời Chiến Quốc, được biên tập vào thời Tây Hán, có một phần rất lớn sách y học đến từ thời Tiên Tần, lúc này Hai mươi tư tiết khí vẫn chưa hình thành hoàn chỉnh, người đời sau dùng phương pháp này để giải thích 《内经 – Nội kinh》 tự nhiên sẽ xuất hiện một số vấn đề không khớp. Tức là sự xuất hiện của Trường hạ sớm hơn sự xuất hiện của Hai mươi tư tiết khí, dùng cái sau giải thích cái trước khó tránh khỏi có ý gượng ép.

Không có đủ bằng chứng cho thấy Trường hạ thuộc hệ thống lịch mười tháng, và không có ý nghĩa thực tiễn.

Đối với cách phân chia thứ ba, 《素问.藏气法时论 – Tố vấn.Tạng khí pháp thời luận》 viết: “Hợp nhân hình dĩ pháp tứ thời, ngũ hành nhi trị”. Điều này nói lên một năm có bốn mùa phối với ngũ hành, nhưng đoạn văn sau lại lấy năm mùa phối với ngũ hành, ở đây chúng ta không thể xác định đó là thuyết Bốn mùa Ngũ hành hay thuyết Năm mùa Ngũ hành, do đó không thể chứng minh cho thuyết năm mùa của nó.

Thứ hai, hệ thống “Ngũ hành thập can thời lệnh lịch” được ghi chép trong 《夏小正 – Hạ tiểu chính》, một năm của nó là mười tháng, mỗi tháng là 36 ngày, tổng cộng là 360 ngày, “cộng thêm năm đến sáu ngày ăn Tết, vừa vặn là một chu kỳ năm”. Vậy điều này nói lên một năm có 365 hoặc 366 ngày, mà chỉ có 360 ngày được gán cho sự phối hợp của ngũ hành, còn những ngày ăn Tết còn lại thì không thuộc hành nào, rõ ràng đây là điều bất hợp lý.

Ngoài ra, do sự hạn chế của mức độ lực lượng sản xuất trong điều kiện thời bấy giờ, nhìn tổng quan 《夏小正 – Hạ tiểu chính》 cũng không phát hiện thấy ghi chép về khái niệm tiết khí và bốn mùa, do đó, không thể xác định Trường hạ có thuộc hệ thống lịch mười tháng hay không. Hơn nữa, hệ thống lịch mười tháng đã dần biến mất sau thời Tiên Tần, Trường hạ đã được vận dụng trong hệ thống lịch mười hai tháng, nếu dùng phương pháp phân chia lịch mười tháng để định nghĩa Trường hạ, đối với sự phát triển của Đông y và lâm sàng ngày nay cũng không có ý nghĩa chỉ đạo. Rõ ràng thuyết pháp này còn cần phải nghiên cứu sâu thêm.

Không thể phủ nhận sự tồn tại của Trường hạ

Trong 《内经 – Nội kinh》 nhắc đến rất nhiều nội dung liên quan đến Trường hạ, nó đáng lẽ phải có khoảng thời gian cụ thể. Học thuyết Ngũ hành cho rằng: Tỳ chủ Trường hạ, là gốc của hậu thiên, sự sinh tồn hậu thiên của cơ thể người đều nhờ vào Tỳ mới có thể thực hiện được. Trong các mùa của một năm, trong các ngày của mỗi mùa, Tỳ đều phát huy vai trò quan trọng. Nhưng chúng ta không có bằng chứng chứng minh nó không có thời gian độc chủ một khí, càng không có đủ bằng chứng nói lên nó có danh không có thực. Học thuyết Ngũ hành là lý luận cơ sở của y học cổ truyền, bất kể là mùa hay tạng phủ, đều được mọi người dùng quan điểm của học thuyết Ngũ hành để chỉ đạo lý luận và lâm sàng Đông y. Do đó, Trường hạ phải là một mùa có danh có thực.

Thời gian thuộc về Trường hạ không thể xác định là 18 ngày sau của mỗi mùa

Trước hết, 《内经 – Nội kinh》 không phải do một người viết ra, trong đó bao hàm học thuyết của các nhà thời Tiên Tần.

Thứ hai, trong 《素问.太阴阳明论 – Tố vấn · Thái âm dương minh luận》 cũng không nhắc đến hai chữ Trường hạ. Cho dù trong 《素问.藏气法时论 – Tố vấn · Tạng khí pháp thời luận》 có “Tỳ chủ Trường hạ”, nhưng đem “các thập bát nhật ký trị” (mỗi mùa gửi trị 18 ngày) trong 《素问.太阴阳明论 – Tố vấn · Thái âm dương minh luận》 gán cho thời gian Trường hạ làm chủ cũng là điều cần bàn lại. Chúng ta nên phân biệt rõ “Tỳ chủ Trường hạ” và “các thập bát nhật ký trị” của việc Tỳ không chủ thời gian cố định. 《素问.太阴阳明论 – Tố vấn · Thái âm dương minh luận》 ý muốn nhấn mạnh khoảng thời gian sau mỗi mùa, sự khí hóa giao cảm của đất trời bắt đầu xuất hiện biến đổi lớn, Tỳ với tư cách là gốc hậu thiên ở giai đoạn này dễ bị tà khí bên trong và bên ngoài xâm phạm.

Một lần nữa, trong 《素问.太阴阳明论 – Tố vấn · Thái âm dương minh luận》 có chép: “Tỳ giả thổ dã, trị trung ương, thường dĩ tứ thời trường tứ tạng, các thập bát nhật ký trị, bất đắc độc chủ ư thời dã”. Điều này nói lên một năm có bốn mùa tương ứng năm tạng, mà trong một số thiên chương của 《内经 – Nội kinh》 lại có năm mùa tương ứng năm tạng. Trường hạ có phải là một mùa hay không, trong thiên luận này cũng không đề cập đến. Có thể đây là khái niệm chưa chín muồi do sự dung hợp của các tư tưởng lý luận khác nhau tạo ra, hoặc do người đời sau phân chia một cách máy móc, mộc mạc gây nên, vì vậy thời gian thuộc về Trường hạ không thể xác định là 18 ngày sau của mỗi mùa.

Nhìn chung các quan điểm về ranh giới thời gian của Trường hạ nêu trên, tuy đều có căn cứ nhưng đều tồn tại những chỗ chưa thỏa đáng. Một là chưa làm được sự thống nhất giữa chủ khách quan và lịch sử cụ thể, tức là chưa đứng ở mức độ lực lượng sản xuất thời bấy giờ để xem xét vấn đề; hai là sự thấu hiểu đối với 《内经 – Nội kinh》 mới chỉ dừng lại ở giai đoạn hiểu đơn giản câu chữ văn bản. Người viết thông qua nghiên cứu lượng lớn văn hiến cho rằng kết hợp Ngũ vận Lục khí và thuyết Ngũ thời Ngũ tạng để phân chia Trường hạ được đưa ra trong 《内经 – Nội kinh》 là tương đối hợp lý.

Đối với Ngũ vận Lục khí, nhìn từ phương thức tư duy và nguồn gốc, việc viết thành văn của “Vận khí thất thiên” (bảy thiên lớn về vận khí) trong 《内经 – Nội kinh》 là dấu mốc hình thành của học thuyết vận khí. Mặc dù thời gian viết thành văn của bảy thiên đại luận này còn tồn tại tranh nghị, nhưng trong các văn hiến liên quan, chúng ta có thể tìm thấy bằng chứng cho thấy lý luận của nó đã trưởng thành. Theo khảo chứng của Vương Ngọc Xuyên, 《淮南子.天文训 – Hoài Nam Tử · Thiên văn huấn》 đã có ghi chép rõ ràng về khoảng thời gian, chu kỳ của Khách vận và tính chất của mỗi vận, đồng thời cho rằng phương pháp phối hợp giữa Khách vận và Khách chủ vận đã sản sinh từ cuối thời Chiến Quốc đầu thời Tây Hán. Từ đó có thể làm bằng chứng cho thấy học thuyết vận khí phát nguyên và trưởng thành từ rất sớm. Ngoài ra, bản chất của Ngũ vận Lục khí có mối liên hệ rất quan trọng với Tượng số học của 《周易 – Chu dịch》 cổ đại. Mà nguyên lý triết học và mô hình tư duy của 《周易 – Chu dịch》 đã đóng vai trò quan trọng đối với việc thiết lập hệ thống tư tưởng của 《内经 – Nội kinh》. Cho nên Ngũ vận Lục khí và 《内经 – Nội kinh》 tồn tại mối liên hệ rất mạnh mẽ.

Nhìn từ góc độ phân chia mùa, theo cách nói của 《内经选读 – Nội kinh tuyển độc》: “Chủ khí, là chỉ cái khí chủ trị sự biến đổi khí hậu bình thường của sáu mùa trong một năm.”. Lục khí có ý muốn chia một năm thành sáu mùa, mà bài viết này muốn thảo luận từ năm mùa, cho nên sẽ không liên quan đến phương pháp phân chia Trường hạ của lý luận lục khí. Đối với thuyết Ngũ thời Ngũ tạng, là do người đời sau đúc kết, khái quát từ trong 《内经 – Nội kinh》 mà có được. Người viết cho rằng, ứng dụng nó để phân chia Trường hạ có hai nguyên nhân:

  • Thứ nhất, mặc dù trong 《内经 – Nội kinh》 tồn tại thuyết Tứ thời tứ tạng, thuyết Tứ thời ngũ tạng, thuyết Ngũ thời ngũ tạng, thuyết Lục thời lục tạng, nhưng trong kinh văn thường liên quan đến một năm có ngũ thời. Kết hợp so sánh trước sau các văn cảnh có liên quan đến thuyết ngũ thời trong kinh văn, người viết suy đoán ngũ thời không phải đại diện cho các mùa riêng lẻ trong năm, mà nói lên một năm là năm mùa Xuân, Hạ, Trường hạ, Thu, Đông.
  • Thứ hai, Trường hạ chồng lấp vào thời điểm cuối mùa Hạ đầu mùa Thu, thực chất là năm mùa. Thử là chủ khí của mùa Hạ, bắt đầu sau tiết Hạ chí, và chấm dứt trước tiết Lập thu, khí hỏa nhiệt vượng vào mùa Hạ. Từ đó có thể biết, một mùa có thể có nhiều cái “Khí” đồng thời hưng vượng, và có câu nói “Thử đa hiệp Thấp” (Nắng nóng thường kẹp theo ẩm ướt), tức là nói lên mùa thấp thịnh và thời điểm thử nhiệt có sự chồng lấp. Từ đó có thể suy đoán Trường hạ chồng lấp ở trong bốn mùa, và ở lúc giao mùa Hạ – Thu.

Vì những nguyên nhân trên, người viết cho rằng, một năm có năm mùa, và Trường hạ chồng lấp ở trong mùa Hạ và mùa Thu, nên áp dụng phương pháp Ngũ vận để phân chia Trường hạ.

Cần chỉ ra rằng, việc đem Trường hạ chồng lấp vào trong khí của mùa Hạ và mùa Thu thì bề ngoài một năm nhìn là bốn mùa, thực tế vẫn là năm mùa. Còn đối với việc Ngũ vận chia đều một năm 365 ngày lẻ 25 khắc thành năm vận, lấy 73 ngày lẻ 5 khắc làm một vận, cũng không mâu thuẫn với cách làm đem Trường hạ chồng lấp vào trong khí của mùa Hạ và mùa Thu. Bởi vì thời điểm Trường hạ tuy chồng lấp với mùa Hạ, mùa Thu, nhưng mặt mâu thuẫn chủ yếu của thời gian đó vẫn là thấp thổ Trường hạ, chỉ là thời gian đó mùa tiết đặc thù, dấu hiệu của mùa Hạ, đầu mùa Thu cũng tồn tại rõ ràng, điều này đã xử lý rất tốt vấn đề tương ứng giữa bốn mùa và năm mùa. Do đó áp dụng phương pháp Ngũ vận để phân chia Trường hạ là thống nhất tương hỗ với phương pháp phân chia bốn mùa trong một năm, trong vận dụng cụ thể chỉ cần làm rõ sự khác biệt của cả hai là được.

Trước hết nên làm rõ bốn mùa trong một năm, tức là cái khí thịnh hành vào các thời kỳ Xuân, Hạ, Thu, Đông, lục khí sẽ tràn đầy ở khoảng giữa đó; tiếp theo, nên vận dụng phương pháp Ngũ vận Lục khí để suy diễn, tính toán ra thời khắc bắt đầu và kết thúc Trường hạ của mỗi năm. Theo Thổ vận của Ngũ vận, Trường hạ chính là từ ngày thứ mười sau tiết Mang chủng đến ngày thứ bảy sau tiết Xử thử. Theo ý của Trương Cảnh Nhạc trong 《类经图翼 – Loại kinh đồ dực》, về thời khắc giao ty cụ thể có sự khác biệt, tức là:

  • Năm Thân, Tý, Thìn: Bắt đầu từ cung Tam vận, ngày thứ mười sau tiết Mang chủng, từ đầu khắc thứ hai giờ Mão bắt đầu, đến ngày thứ bảy sau tiết Xử thử, đến đúng khắc thứ ba giờ Mão thì kết thúc.
  • Năm Tỵ, Dậu, Sửu: Bắt đầu từ cung Tam vận, ngày thứ mười sau tiết Mang chủng, từ đầu khắc thứ hai giờ Ngọ bắt đầu, đến ngày thứ bảy sau tiết Xử thử, đến đúng khắc thứ ba giờ Ngọ thì kết thúc.
  • Năm Dần, Ngọ, Tuất: Bắt đầu từ cung Tam vận, ngày thứ mười sau tiết Mang chủng, từ đầu khắc thứ hai giờ Dậu bắt đầu, đến ngày thứ bảy sau tiết Xử thử, đến đúng khắc thứ ba giờ Dậu thì kết thúc.
  • Năm Hợi, Mão, Mùi: Bắt đầu từ cung Tam vận, ngày thứ mười sau tiết Mang chủng, từ đầu khắc thứ hai giờ Tý bắt đầu, đến ngày thứ bảy sau tiết Xử thử, đến đúng khắc thứ ba giờ Tý thì kết thúc.

Sau khi có được thời khắc bắt đầu và kết thúc của Trường hạ, trong khoảng thời gian này nên xem xét sự xuất hiện “Thấp” của Trường hạ, đồng thời kết hợp cái khí thịnh hành của các thời kỳ trong bốn mùa để tiến hành phán đoán phân tích tổng hợp đối với bệnh tình. Tuy nhiên chỉ cần bước vào thời gian thuộc về Trường hạ, thì nên thuộc về mùa Trường hạ, đối với ảnh hưởng của khí mùa Hạ và mùa Thu của cách phân chia bốn mùa vào lúc này nên hiểu là Khách khí của mùa này, chứ không phải Chủ khí.

Sự chỉ đạo của Trường hạ đối với lâm sàng

Trong học thuyết Ngũ hành, năm hành Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy tương ứng với năm mùa Xuân, Hạ, Trường hạ, Thu, Đông, đồng thời cũng tương ứng với năm hóa: Sinh, Trưởng, Hóa, Thu, Tàng. Bốn mùa nếu không có cái “Hóa” của Trường hạ, thì cỏ cây tuy tươi tốt mà rốt cuộc không thành quả thực, mùa Thu đã không thu hoạch, mùa Đông cũng không bế tàng. Tỳ chủ Trường hạ, là gốc của hậu thiên, vận hóa thủy cốc thì sinh cơ mới có được. Sự sinh tồn hậu thiên của con người đều dựa vào Tỳ vị để thực hiện, mà Trường hạ do Tỳ làm chủ, cho nên chức năng bình thường của Tỳ muốn thực hiện được thì cần phải nuôi dưỡng Tỳ (dưỡng tỳ) và giữ gìn sức khỏe (nhiếp sinh) vào mùa Trường hạ.

Đồng thời, vào thời điểm Trường hạ, nhiệt độ không khí sẽ đạt đến trạng thái cao nhất, lúc này tiến hành “đông bệnh hạ trị” (bệnh mùa đông chữa vào mùa hè) cũng có thể đạt được mục đích nuôi dưỡng thân tâm. Điều đi sâu vào lòng người dân chúng nhất không gì bằng Miếng dán Tam phục (Tam phục thiếp – Dán thuốc vào các ngày thuộc Tam phục) của Trường hạ. Theo ghi chép trong 《阴阳书候 – Âm dương thư hậu》, ngày Canh thứ ba sau Hạ chí là Sơ phục, ngày Canh thứ tư là Trung phục, ngày Canh đầu tiên sau Lập thu là Mạt phục. 《素问.四气调神大论 – Tố vấn · Tứ khí điều thần đại luận》 viết: “Thánh nhân xuân hạ dưỡng dương”, lúc này dương khí của trời đất thịnh cực, mượn dương giúp dương để bổ dương có lợi cho việc đạt được mục đích đông bệnh hạ trị. Do sự khác nhau của từng năm, Tam phục có sự phân chia 30 ngày và 40 ngày. Hiện nay, trong lâm sàng, Tam phục thiếp thường dùng cho các chứng bệnh dễ phát tác vào mùa lạnh hoặc khi dương khí hư nhược như hen suyễn, viêm phế quản mạn tính, tị khâu (viêm mũi dị ứng)… và đem lại hiệu quả rõ rệt.

Mùa Trường hạ thử thấp thịnh hành, cực kỳ dễ làm tổn thương dương khí của cơ thể người. Thấp là âm tà, dễ làm trở ngại khí cơ, tổn thương dương khí, tính chất của nó nặng nề, đục ngầu, dính nhớt và trì trệ. 《素问.生气通天论 – Tố vấn · Sinh khí thông thiên luận》 viết: “Nhân ư thấp, đầu như khỏa”, tức là nói lên lúc này do thời tiết nhiều mưa, khí hậu ẩm ướt, hoặc lội nước gặp mưa, ở lâu nơi ẩm ướt, nơi ở ẩm thấp mà dẫn đến thấp tà xâm phạm con người, thường kèm theo các triệu chứng đầu nặng như bị quấn vải, cơ thể mệt mỏi, tứ chi mỏi nhức, da thịt tê bì hoặc giảm cảm giác… Hoặc do tỳ dương hư nhược, thấp vây khốn ở Tỳ, cơ thể mất quyền vận hóa, dẫn đến nước ngưng thấp tụ, xuất hiện tình trạng mà 《素问.六元正纪大论 – Tố vấn · Lục nguyên chính kỷ đại luận》 đã nói: “Thấp thắng tắc nhu tiết, thậm tắc thủy bế phụ thũng”. Đời Thanh, Diệp Quế trong 《温热论 – Ôn nhiệt luận》 nói: “Thấp thắng tắc dương vi”, đã chỉ ra rằng, sự bất túc của dương khí tạng Tỳ có mối liên hệ quan trọng với thấp tà. Sách 《灵枢.百病始生 – Linh khu · Bách bệnh thủy sinh》 viết: “Thanh thấp tập hư, bệnh khởi ư hạ”. Cho nên thấp tà làm tổn thương người đa phần làm tổn thương phần dưới của cơ thể người, gây ra các chứng như phù thũng, thấp chẩn (chàm).

Nhắm vào cái Thấp của Trường hạ, Đông y cho rằng lúc này nên thực hiện nguyên tắc “Lưỡng phòng”:

Một là, phòng thấp: Nên tránh tiếp xúc với khí ẩm ướt, giữ cơ thể khô ráo sạch sẽ. Tránh dầm mưa, lội nước, ở lâu trong môi trường ẩm thấp để hạn chế thấp tà xâm nhập.

Hai là, phòng thử phòng lương (tránh nắng, tránh lạnh): Thử ở thời điểm này đa phần xen tạp thấp tà xâm phạm con người, khiến cơ thể trúng thử (say nắng), mạo thử, lúc này nên tránh nhiệt độ cao, sức nóng lớn; hàn ôn có chừng mực, quyết không được vì tham mát mà cảm nhiễm hàn khí.

Trên lâm sàng, thường dùng các vị Hoắc hương, Bội lan, Kê nội kim, Sơn tra, Thương truật, Hậu phác… để hóa thấp kiện tỳ; dùng Lá sen (Hà diệp), Tây qua thúy y (vỏ dưa hấu)… để thanh thử nhiệt.

《素问.生气通天论 – Tố vấn · Sinh khí thông thiên luận》 viết: “Dương khí giả, nhược thiên dữ nhật, thất kỳ sở tắc chiết thọ nhi bất chương, cố thiên vận đương dĩ nhật quang minh”. Cơ thể con người sở dĩ bị tổn thương bởi các tà khí như thấp, thử, đều do dương khí của cơ thể bất túc gây ra. Do đó, vào dịp Trường hạ, mượn dương bổ dương nên là một phương pháp phù dương phòng bệnh (trị vị bệnh) rất tốt.

Như vậy, những định nghĩa về Trường hạ trong 《内经 – Nội kinh》 từ lâu đã tồn tại nhiều thuyết pháp khác nhau. Thực tế, nguyên nhân sản sinh ra nhiều thuyết pháp là do bối cảnh trăm nhà đua tiếng (bách gia tranh minh), các học thuyết cùng tồn tại lúc bấy giờ. Dựa trên bối cảnh thành sách này, 《内经 – Nội kinh》 cuối cùng được ra đời bởi sản phẩm của sự va chạm giữa các tư duy khác nhau. Nghìn năm trở lại đây, các nhà đối với nghĩa của Trường hạ mỗi người một ý. Đời Minh, Tôn Nhất Khuê trong 《赤水玄珠 – Xích thủy huyền châu》 nói: “Dụng cổ nhân chi pháp, thẩm kỳ dụng pháp chi thời, đắc kỳ lập pháp chi tâm. Học vô thường sư, trạch thiện nhi tòng”.

Bài viết này cố gắng giải thích Trường hạ, cho rằng phương pháp Ngũ vận vô cùng kỳ diệu, thử lấy để giải thích. Ngoài ra, Trường hạ có vị trí quan trọng trong năm mùa của một năm, là thời điểm tốt nhất để nhiếp sinh kéo dài tuổi thọ. Việc xác định thời gian của Trường hạ sẽ có lợi cho việc phổ biến Trường hạ Đông y trong đại chúng và phát huy rạng rỡ văn hóa Đông y.

Tài liệu tham khảo

焦旭, 雍小嘉, 汤朝晖. 对中医长夏的考辨. 南京中医药大学学报(社会科学版)2013年3月第14卷第1期.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *