Đông y điều trị vô sinh do tắc vòi trứng

Vô sinh là một khó khăn lớn mà một bộ phận phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ phải đối mặt, vừa ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người bệnh, vừa ảnh hưởng đến sự ổn định của gia đình và xã hội. Các yếu tố chính gây vô sinh có thể chia thành các nguyên nhân do vòi trứng, buồng trứng, môi trường buồng tử cung… Trong đó, vô sinh do tắc vòi trứng là một dạng vô sinh điển hình do yếu tố vòi trứng gây ra. Bệnh thường liên quan đến các phản ứng viêm nhiễm, hoặc cũng có thể do tình trạng ứ dịch vòi trứng, các bệnh lây truyền qua đường tình dục… gây nên. Tây y lâm sàng chủ yếu điều trị bằng kháng sinh, phẫu thuật…, dễ dẫn đến các tình trạng bất lợi như nhiễm trùng, tắc nghẽn tái phát. Trong khi đó, nguy cơ xảy ra biến chứng khi điều trị bằng Trung y dược (Đông y) là tương đối thấp. Dưới tiền đề đó, việc ứng dụng Trung y để điều trị vô sinh do tắc vòi trứng hiện nay ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm và bắt đầu được sử dụng hiệu quả trên lâm sàng.

Nguyên nhân và Cơ chế bệnh sinh (Bệnh nhân Bệnh cơ)

Vòi trứng là nơi duy nhất để tinh trùng và trứng kết hợp. Vòi trứng thông suốt và có chức năng bình thường là một trong những điều kiện cần thiết để thụ thai tự nhiên, do đó, việc thông tắc vòi trứng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc phục hồi chức năng sinh sản.

Nguyên nhân:

Nguyên nhân chính gây vô sinh do vòi trứng là nhiễm trùng. Các bệnh lý nhiễm trùng đường sinh dục lây qua đường máu, lây ngược dòng… đều có thể ảnh hưởng xấu, làm thay đổi cấu trúc và chức năng của vòi trứng, từ đó dẫn đến vô sinh. Trong số các yếu tố nhiễm trùng gây vô sinh, viêm vùng chậu là một trong những nguyên nhân lâm sàng thường gặp nhất. Bệnh nhân có tiền sử viêm vùng chậu nếu trước đó không được điều trị kịp thời và hiệu quả sẽ rất dễ bị dính và tắc vòi trứng, làm tăng cao nguy cơ vô sinh. Bệnh nhân có tiền sử nạo phá thai cũng có tỷ lệ vô sinh cao hơn; việc sảy thai/nạo hút thai nhiều lần có thể dẫn đến nhiễm trùng tiềm ẩn ở vùng chậu.

Cơ chế theo Trung y:

Lý luận Trung y cho rằng, can mất sơ tiết, thấp nhiệt ứ tích sẽ thúc đẩy kinh mạch ứ trở, làm tắc nghẽn vòi trứng, từ đó gây vô sinh.

Huyết ứ là nguyên nhân chính; khí cơ của bệnh nhân không thông suốt, ứ huyết cản trở khiến tinh trùng không thể kết hợp với trứng để thụ thai.

Phân thể lâm sàng (Chứng hình):

Căn cứ vào tình trạng thực tế của bệnh nhân, có thể chia thành hai thể: Hàn thấp huyết ứThận hư huyết ứ.

Thận hư sinh hàn thấp, hàn thấp làm tổn thương thận khí, do đó hai thể này thường xuất hiện đan xen. Thận khí hư nhược, ngoại tà xâm nhập có thể làm tình trạng ứ huyết đình trệ thêm trầm trọng, gây tắc nghẽn bào cung. Hàn thấp quá mức thúc đẩy huyết dịch ngưng trệ, tổn thương kinh mạch. Thận khí bất túc khiến khí huyết thiếu hụt, bào mạch tắc nghẽn. Bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng như sợ lạnh, đau bụng, rêu lưỡi trắng, lượng kinh nguyệt ít, hoa mắt ù tai.

Điều trị

Bệnh nhân vô sinh do tắc vòi trứng ngoài việc không thể mang thai thì hầu như không có triệu chứng lâm sàng đặc hiệu, nếu có phản ứng viêm mới có thể gây đau bụng dưới. Nhưng hệ lụy từ việc vô sinh lại tạo ra gánh nặng tâm lý và áp lực tinh thần lớn cho bệnh nhân cùng gia đình, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và xã hội, do đó nhu cầu điều trị là rất cấp thiết.

Trước đây, các phương pháp điều trị thông thường như bơm thông dịch, thông khí nhiều lần… rất khó khăn, bệnh nhân cảm thấy khó chịu và đau đớn nhiều, mà hiệu quả lại không cao. Theo lý luận Trung y, vô sinh do tắc vòi trứng được xếp vào phạm trù “khí trệ huyết ứ”. Do đó, nguyên tắc điều trị là:

  • Thư kinh thông lạc, cải thiện tình trạng tắc nghẽn vòi trứng.
  • Điều lý tỳ thận, khứ thấp hóa ứ.
  • Lấy lý khí hoạt huyết, hóa ứ tán kết làm nguyên tắc chủ đạo để nâng cao hiệu quả chữa bệnh và phục hồi. Hàn thấp huyết ứ và thận hư huyết ứ thường đan xen, vì vậy điều trị tổng thể cần chú ý ôn dương hoạt huyết.

Phương pháp điều trị kết hợp cả trong lẫn ngoài theo từng giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt:

Phương pháp Ngoại trị (Điều trị bên ngoài)

Đưa tác dụng của thuốc trực tiếp lên vị trí bệnh, cải thiện tuần hoàn máu cục bộ, cải thiện môi trường vùng chậu, tác dụng nhanh và chính xác.

  • Bài thuốc đắp ngoài: Dùng Nhũ hương, Hồng hoa, Đương quy, Chế xuyên ô, Bạch chỉ, Can khương… làm thành bài thuốc đắp. Hấp nóng rồi đắp vùng dưới rốn. Thuốc thẩm thấu qua da kết hợp với tác dụng nhiệt để cải thiện tuần hoàn máu, thúc đẩy phục hồi chức năng lông mao của niêm mạc vòi trứng, giúp bổ thận hoạt huyết, giải độc ôn dương.
  • Bài thuốc thụt trực tràng (Quán tràng): Dùng Quế chi, Đào nhân, Mẫu đơn bì, Bồ công anh, Phục linh… đun nóng rồi thụt qua đường trực tràng, giữ trong 1 giờ. Thuốc ngấm trực tiếp qua tĩnh mạch dưới niêm mạc trực tràng tới ổ bệnh, giúp bổ thận hoạt huyết ôn dương và cải thiện tuần hoàn máu tại chỗ.

Phương pháp Nội ẩm (Thuốc uống trong)

Lựa chọn các bài thuốc khác nhau dựa trên tình trạng và chứng trạng của bệnh nhân:

  • Bài thuốc trị hàn thấp ứ trở: Gồm Sài hồ, Xích thược, Phục linh, Ô dược… sắc uống. Có tác dụng hoạt huyết chỉ thống, sơ can lý khí, ôn kinh tán hàn hóa ứ. Nếu lấy bã thuốc chườm nóng vùng bụng dưới sẽ tăng thêm hiệu quả.
  • Hoàng kỳ Quế chi ôn bổ phương: Gồm Hoàng kỳ, Xích thược, Đương quy, Câu kỷ tử, Cam thảo… sắc uống, giúp bổ khí dưỡng huyết, ôn kinh thông mạch, thúc đẩy rụng trứng.

Biện chứng luận trị:

  • Thể can khí uất kết dùng Bách linh điều can thang (Đương quy, Xích thược, Ngưu tất, Thông thảo) để sơ can giải uất, lý huyết điều kinh.
  • Thể ứ huyết nội kết dùng Thiếu phúc trục ứ thang (Đương quy, Xuyên khung, Tiểu hồi hương, Can khương, Diên hồ sách) để hoạt huyết hóa ứ, ôn kinh thông lạc.
  • Gia giảm dược liệu: Dựa vào tình trạng thực tế, có thể thêm Ngô thù du để tăng hiệu quả bổ thận, Xa tiền thảo để kháng viêm, giải độc hoạt huyết chống tái phát, Bồ công anh để thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng tán kết.

Điều trị theo Chu kỳ Kinh nguyệt

Nguyên nhân bệnh trong toàn chu kỳ ảnh hưởng nhiều bởi giai đoạn tiền kinh nguyệt (dương khí suy yếu). Do đó cần tập trung bổ thận trợ dương, ôn bào trợ thai, dưỡng huyết lý khí:

  • Bài thuốc trị viêm vùng chậu (Giai đoạn điều lý): Đương quy, Bạch thược, Đan sâm, Sinh địa hoàng, Sao xích thược, Mẫu đơn bì, Bồ công anh, Đại huyết đằng… Tác dụng: Hoạt huyết giải độc, bổ thận bồi bản, đả thông kinh lạc, chuẩn bị cho giai đoạn trợ thai.
  • Kinh kỳ phương (Trong kỳ kinh): Đương quy, Mẫu đơn bì, Cam thảo, Sinh ý dĩ nhân, Ích mẫu thảo, Sinh sơn tra, Đan sâm… Tác dụng: Thúc đẩy kinh huyết ra ngoài, hoạt huyết điều kinh, khứ ứ bài trọc (loại bỏ cặn bã).
  • Noãn phao phương (Kích nang trứng): Sao xích thược, Sao bạch thược, Sao sơn dược, Tửu sơn thù nhục, Tử hà xa, Câu đằng, Bạch truật… Tác dụng: Tư âm dưỡng huyết, bổ thận ích âm, dục tinh dưỡng noãn.
  • Bài noãn phương (Kích rụng trứng): Quế chi, Xuyên khung, Hồng hoa, Tục đoạn, Liên tử tâm, Thục địa hoàng, Kinh giới, Cam thảo, Sinh hoàng kỳ… Tác dụng: Hoạt huyết trợ dương, thông lạc hành khí, thúc đẩy quá trình rụng trứng diễn ra thuận lợi.
  • Hoàng thể phương (Dưỡng hoàng thể): Tục đoạn, Sao bạch thược, Bạch truật, Thái tử sâm, Liên tử tâm, Tang ký sinh, Câu đằng, Sao sơn dược, Thỏ ty tử, Tử hà xa… Tác dụng: Cải thiện tỳ thận bất túc, bổ thận trợ dương, trợ thai an thai.

Vô sinh do vòi trứng là một tình trạng khó điều trị, dùng thuốc Tây y thông thường có tiên lượng không tốt và hiệu quả ở mức trung bình. Quá trình điều trị cần chú trọng ôn dương hoạt huyết, bổ thận bồi bản, lấy việc thông suốt vòi trứng, thúc đẩy nang trứng phát triển và rụng trứng làm chìa khóa.

Việc ứng dụng Trung y dược thông qua các phương pháp kết hợp như uống trong, đắp ngoài, thụt trực tràng… sẽ giúp phát huy hiệu quả hiệp đồng. Dựa vào tình trạng bệnh, thể bệnh, bệnh trình để đánh giá toàn diện, từ đó đưa ra phác đồ nhắm trúng đích. Phương pháp này nhấn mạnh việc “đồng trị tiêu bản” (chữa cả ngọn lẫn gốc), cải thiện tuần hoàn máu cục bộ, thúc đẩy tiêu viêm, tư thận điền tinh, ôn kinh thông mạch, giúp ức chế sự tích tụ tiểu cầu, tạo môi trường thuận lợi để tinh trùng kết hợp với trứng, thúc đẩy vòi trứng thông suốt và rụng trứng.

Lộ trình khứ ứ thông lạc, bổ thận trợ thai diễn ra theo các bước: giai đoạn đầu hành khí hoạt huyết khứ ứ; giai đoạn sau tư âm điền tinh bổ hư; giữa chu kỳ thì bổ thận hoạt huyết lý khí; chú trọng bổ thận trợ dương, sơ can trợ thai, phù trợ chính khí thuận theo tự nhiên để có thể thụ thai thuận lợi. Sự kết hợp giữa thuốc uống và thụt trực tràng giúp thuốc tác dụng trực tiếp lên vị trí vòi trứng, tăng nồng độ dược chất tại chỗ, cải thiện tuần hoàn máu căn bản, từ đó tăng tỷ lệ mang thai thành công. Điều trị từ cục bộ đến toàn thân giúp cải thiện các triệu chứng tổng thể.

Cần coi trọng quan niệm chỉnh thể kết hợp với đặc điểm cá nhân của từng người bệnh khi xây dựng phác đồ. Đưa điều trị Trung y vào toàn bộ chu kỳ, kịp thời điều chỉnh bài thuốc và phương thức đưa thuốc để phát huy tác dụng tối ưu nhất.

Tóm lại, thông qua điều trị bằng Trung y dược có thể giảm thiểu hiệu quả các triệu chứng ở bệnh nhân vô sinh do tắc vòi trứng, phục hồi chức năng sinh lý, thúc đẩy nang noãn trưởng thành, từ đó làm tăng tỷ lệ mang thai, cải thiện tình trạng thể chất và tinh thần của người bệnh, nâng cao mức độ hài lòng, góp phần vào sự ổn định và hài hòa của gia đình cũng như xã hội.

Tài liệu tham khảo

樊聪俐. 中医药治疗输卵管堵塞性不孕用药经验. 国际中医药研究. 2024 年第 4 卷第

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chỉ mục