Suy chức năng buồng trứng sớm (POI) là tình trạng phụ nữ trước 40 tuổi bị mất chức năng buồng trứng bình thường do số lượng nang trứng bị cạn kiệt hoặc chất lượng nang trứng còn lại suy giảm. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là kinh nguyệt bất thường (kinh ít, chu kỳ kéo dài, kinh thưa, cho đến bế kinh); năng lực sinh sản suy giảm, thậm chí vô sinh, hiếm muộn; các triệu chứng bốc hỏa, vã mồ hôi do nồng độ estrogen thấp, các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật (hồi hộp, mất ngủ, đau đầu), triệu chứng tinh thần – thần kinh (lo âu, trầm cảm), thậm chí xuất hiện các biến chứng đường dài như bệnh lý tim mạch, loãng xương, hệ tiết niệu – sinh dục.
Trước khi khái niệm POI xuất hiện, trên lâm sàng thường sử dụng thuật ngữ chuyên môn là “Suy buồng trứng sớm”. Sự xuất hiện của khái niệm POI có thể cung cấp căn cứ lý luận cho việc chẩn đoán và điều trị ở những phụ nữ phát hiện sớm sự suy giảm chức năng buồng trứng, đồng thời giảm bớt gánh nặng tâm lý cho họ, góp phần có lợi cho quá trình điều trị bệnh. Y học cổ truyền có ưu thế nhất định trong điều trị các bệnh lý phức tạp, khó chữa; sau đây xin tổng quan về tiến triển nghiên cứu suy chức năng buồng trứng sớm.
Bệnh danh
Trong cổ thư Y học cổ truyền không có ghi chép về tên bệnh “Suy chức năng buồng trứng sớm”, nhưng căn cứ vào biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bệnh, có thể quy về phạm vi các bệnh chứng Y học cổ truyền như “Kinh thủy tảo đoạn”, “Bất dựng”, “Nguyệt kinh bệnh”.
Trong các thư tịch Đông y cổ có thể tìm thấy các diễn đạt và nhận thức về lâm sàng tương tự như “Suy chức năng buồng trứng sớm”, như
- Trong 《傅青主女科 – Phụ Thanh Chủ nữ khoa》 từng ghi chép “Niên vị lão nhi kinh thủy đoạn” (Tuổi chưa già mà kinh nguyệt đã dứt)
- Trong 《素问 – Tố vấn》 ghi chép: “… Tri thất tổn bát ích… Tảo suy chi tiết dã. Niên tứ thập,… Khởi cư suy hĩ” (…Biết thất tổn bát ích… Là cái mốc của suy sớm. Tuổi bốn mươi,… Sinh hoạt thường nhật đã suy vậy), đây là lần đầu tiên từ “Suy sớm” được nhắc đến.
Bệnh cơ
Gốc bệnh tại Thận, nhưng có liên quan đến tạng Tâm – Can – Tỳ và hai mạch Xung Nhâm.
Thận hư là gốc rễ gây bệnh. Thận chủ sinh sản, Thận tinh khuy thì Thiên quý thiếu hụt, xuất hiện chứng Bế kinh, suy chức năng buồng trứng sớm. Những người bẩm tố tiên thiên không đầy đủ hoặc vốn có thận hư từ trước, kết hợp với các yếu tố hậu thiên như sinh hoạt tình dục không điều độ, tổn thương sau sinh đều có thể làm hao tổn thận tinh và phát sinh bệnh này
Trường phái Phụ khoa Hàn thị cho rằng can thận thất điều, tinh huyết hư kiệt là cơ chế bệnh sinh chủ yếu của bệnh. Học phái này cho rằng can thận là gốc tiên thiên của nữ giới, Xung – Nhâm là nền tảng của bào cung. Bệnh thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản; trong giai đoạn này, áp lực từ công việc, cuộc sống và gia đình khiến thận tinh hư suy, can mất chức năng sơ tiết, khí uất hóa hỏa, làm hao tổn khí huyết. Khí huyết bị tổn thương lại tiếp tục làm thận tinh suy giảm, không thể đi xuống để tư dưỡng Xung – Nhâm và nuôi dưỡng bào cung. Quá trình này lặp đi lặp lại khiến bào cung và bào mạch mất sự nuôi dưỡng, huyết hải hư không, từ đó dẫn đến rối loạn chức năng của trục thận khí – thiên quý – Xung Nhâm – bào cung.
《黄帝内经素问·阴阳别论 – Hoàng Đế nội kinh Tố vấn · Âm dương biệt luận》 ghi: “Nhị dương chi bệnh phát tâm tỳ, hữu bất đắc ẩn khúc, nữ tử bất nguyệt, kỳ truyền vi phong tiêu, kỳ truyền vi tức bôn giả, tử, bất trị” – “Bệnh của nhị dương phát ở tâm và tỳ; có chứng không thể giao hợp; nữ giới không có kinh nguyệt. Nếu truyền thành phong tiêu, hoặc truyền thành tức bí thì tử vong, không thể chữa.”
Giáo sư Đàm Dũng dựa trên lý luận này cho rằng nhị dương, tâm và tỳ có mối liên hệ mật thiết với chứng bế kinh do POI (suy giảm chức năng buồng trứng sớm) gây ra. Đối với nhị dương và kinh Dương Minh ở tay và chân, trên lâm sàng Giáo sư Đàm thiên về kinh Vị thuộc Túc Dương Minh. Khi Dương Minh hư suy thì khí huyết của Xung – Nhâm không đầy đủ; tâm tỳ đều hư khiến nguồn sinh hóa khí huyết thiếu hụt; khí của tâm, can và tỳ uất trệ, không thể hóa sinh tinh vi khí huyết để đưa vào huyết hải của nhị dương, khiến huyết mạch dần khô kiệt, huyết hải không có nguồn để sung mãn, cuối cùng dẫn đến bế kinh.
Sử Vy và các cộng sự cho rằng bản chất của cơ chế bệnh sinh là thận khí bất túc, tinh huyết hư suy, do hư mà sinh ứ. Trong đó, thận hư là bản, huyết ứ là tiêu. Thận khí bất túc không đủ sức thúc đẩy huyết vận hành, khiến huyết lưu trệ mà hóa ứ; thận dương hư suy, mất chức năng ôn dưỡng nên hàn ngưng sinh ứ; thận âm hư khiến huyết ít mà sinh ứ; thận hư và huyết ứ vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau.
Tóm lại, các y gia tuy xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, nhưng đều thống nhất rằng thận hư là cơ chế bệnh sinh cốt lõi của suy giảm chức năng buồng trứng sớm (POI). Do đó, khi điều trị POI không chỉ cần bắt đầu từ thận hư, mà còn phải xem xét đặc điểm hư thực xen lẫn của bệnh. Điều này mang lại nhiều lựa chọn hơn cho chẩn đoán và điều trị lâm sàng; đồng thời, việc biện chứng luận trị dựa trên tình trạng cụ thể của từng người bệnh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều trị.
Đông y trị liệu Suy buồng trứng sớm (Suy chức năng buồng trứng sớm)
Điều trị nội khoa
Chủ yếu bao gồm hai phương diện: biện chứng luận trị và liệu pháp điều kinh theo chu kỳ (điều chu pháp).
Lý luận của Giáo sư Vương Tiểu Vân
GS Vương Tiểu Vân vận dụng học thuyết Ngũ tạng phối Ngũ hành để điều trị POI. Bà cho rằng cơ thể con người là một chỉnh thể cân bằng, vì vậy điều trị POI không nên chỉ tập trung vào một tạng đơn lẻ. Theo mối quan hệ tương sinh, tương khắc, chế hóa của Ngũ hành, khi một tạng mắc bệnh thì bốn tạng còn lại cũng đều chịu ảnh hưởng.
- Thủy không dưỡng Mộc (Thận – Can): lấy phép tư bổ thận, dưỡng can, dưỡng huyết, thông kinh làm chủ.
- Thủy Hỏa bất giao (Thận – Tâm): nên tư bổ thận thủy để chế tâm hỏa, đồng thời căn cứ vào mối quan hệ âm dương hỗ căn, phối hợp ôn bổ thận dương.
- Thủy Thổ bất hòa (Thận – Tỳ): dùng Quy Tỳ thang phối hợp Nhị Tiên thang nhằm kiện tỳ bổ thận, dưỡng huyết điều kinh.
- Kim hư Thủy suy (Thận – Phế): điều trị bằng Lục Vị Địa Hoàng hoàn, gia Mạch môn, Sa sâm, Tiền hồ và các vị thuốc có tác dụng cam lương thanh phế hoặc cam ôn bảo phế, nhằm đạt được nguyên tắc Kim sinh Thủy.
- Hỏa không ôn Thổ (Tâm – Tỳ): cần tả tâm hỏa, bổ tỳ huyết.
- Kim hư hao Thổ (Phế – Tỳ): điều kinh theo phép kiện tỳ hòa vị, hóa đàm hành khí.
- Mộc uất khắc Thổ (Can – Tỳ): dùng Sài Hồ Sơ Can tán gia giảm với phép ức can phù thổ.
- Mộc cang Hỏa nghịch (Can – Tâm): ngoài biện chứng thông thường, gia các vị Phù tiểu mạch, Toan táo nhân, Hợp hoan bì, Viễn chí… quy vào kinh Tâm nhằm sơ đạt can khí, an định tâm thần.
- Hỏa nghịch khắc Kim (Tâm – Phế): chọn Hạnh nhân, Tang bạch bì, Cát cánh, Chi tử… để tuyên phế tả nhiệt, giáng phế khí nhằm thông đạt tâm khí.
- Kim Mộc tương chế (Phế – Can): phụ nữ thuộc âm, thường ưu tư quá mức, vì vậy cần tuyên phế giải uất.
Đồng thời, kết hợp với lý luận Ngũ tạng hóa Ngũ khí, thực hiện điều trị đồng thời cả thân và tâm.
Lý luận của Giáo sư Lưu Mẫn Như
GS Lưu Mẫn Như, dựa trên kinh nghiệm lâm sàng và y thư cổ, cho rằng điều trị POI cần lấy tư âm, bổ thận, ích tinh làm pháp điều trị cơ bản.
- Đối với thận âm hư, can khí uất kết, dùng Tả Quy ẩm hợp Tư Thủy Thanh Can ẩm gia giảm hoặc Sinh Mạch Ngũ Tử Phục Kinh thang.
- Nếu biện chứng thuộc thận dương hư, tỳ dương bất vận, dùng Hữu Quy ẩm để ôn bổ thận dương, Bổ Trung Ích Khí thang để kiện vận tỳ vị, hoặc dùng Tư Thận Dục Thai hoàn.
- Nếu xuất hiện chứng thận thủy hư, tâm huyết bất túc, dùng Ngũ Tử Diễn Tông hoàn phối hợp Bổ Tâm đan nhằm tư thủy dưỡng tâm, giao thông tâm thận.
- Đối với POI do thận tinh hư, tủy hải hư không, trên lâm sàng thường dùng Ngũ Tử Diễn Tông hoàn phối hợp Tri Bá Địa Hoàng hoàn, hoặc Quy Thận hoàn gia giảm, hoặc Tư Quý Nữ Trinh hoàn, nhằm tư âm giáng hỏa, bổ thận, ninh tâm, dưỡng tinh khí và bổ ích não tủy.
Lý luận của Giáo sư Trần Huệ Nông
GS Trần Huệ Nông cho rằng thiên quý suy kiệt sớm là yếu tố then chốt trong cơ chế phát bệnh của POI, đồng thời có liên quan mật thiết với tâm, can, tỳ (vị), thận, não tủy và phế.
Sự hình thành thiên quý phụ thuộc vào chức năng của các tạng phủ trên. Thiên quý thuộc âm tinh, khi tà khí làm tổn thương âm sẽ phát sinh bệnh này.
Mặt khác, tâm và phế thuộc Thượng tiêu, tỳ vị thuộc Trung tiêu, can thận thuộc Hạ tiêu, vì vậy xét theo học thuyết Tam tiêu thì đây là tình trạng Tam tiêu đồng thời tổn thương phần âm.
Phương pháp điều trị lựa chọn Sinh Mạch tán, Lưỡng Địa thang phối hợp Đại Bổ Âm hoàn để bổ âm Tam tiêu; đồng thời không quên sử dụng các vị thuốc bổ dương như Thỏ ty tử và Ba kích thiên nhằm “cầu âm trong dương”, sau đó gia giảm tùy theo biểu hiện lâm sàng của từng bệnh nhân.
Lý luận của Giáo sư Hạ Quế Thành
Giáo sư Hạ Quế Thành cho rằng POI lấy thận âm hư làm bản, tâm hỏa và can hỏa uất kết làm tiêu. Bệnh biểu hiện chủ yếu ở tâm, nhưng thận mới là căn bản của bệnh. Từ đó, ông đề xuất phương pháp bổ thận, ninh tâm, điều chu kỳ.
Ông đặc biệt coi trọng giai đoạn sau kỳ kinh (kinh hậu kỳ), vì đây là thời kỳ quan trọng để thiên quý được hình thành. Dựa vào đặc điểm của giai đoạn này, ông sử dụng các vị thuốc có tính trọng trấn, giáng nghịch như Nhị giáp; đồng thời dùng Hợp hoan bì, Hoàng liên, Liên tử tâm… để tả hỏa, giáng hỏa, ninh tâm.
Ngoài ra, sử dụng các vị thuốc có vị toan sáp như Sơn thù du, Ngũ vị tử… nhằm bảo vệ công năng tàng tinh của thận, từ đó hình thành pháp điều trị chủ đạo là tư âm giáng hỏa, ninh tâm an thần, giúp thiên quý được hình thành và thúc đẩy sự phát triển của noãn.
Giáo sư cũng đặc biệt chú trọng đến trạng thái cảm xúc của người bệnh. Tinh thần thư thái không chỉ giúp phục hồi thận âm, mà còn làm cho khí huyết ổn định trong thời kỳ rụng trứng. Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng các vị thuốc sơ can giải uất, cần kết hợp liệu pháp tư vấn và điều hòa tâm lý.
Do các vị thuốc tư bổ âm thường có tính trệ nê, dễ ảnh hưởng đến tỳ vị, trong khi tỳ vị là gốc của hậu thiên, là nguồn sinh hóa khí huyết, nên cần điều bổ hậu thiên để nuôi dưỡng tiên thiên (thận).
Điều trị ngoại khoa
Liệu pháp châm cứu đơn thuần
Châm cứu có thể điều hòa chức năng của trục dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng (HPOA), cải thiện hình thái mô học của buồng trứng và tử cung, đồng thời tác động đến hệ thống điều hòa thần kinh – nội tiết – miễn dịch, từ đó nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể.
Một nghiên cứu tiến hành điều trị châm cứu trong 12 tuần trên 12 bệnh nhân POI, sử dụng luân phiên hai nhóm huyệt:
- Nhóm huyệt 1: Thần đình (GV24), Bách hội (GV20), Trung quản (CV12)…
- Nhóm huyệt 2: Thứ liêu (BL32), Thận du hai bên (BL23)…
So sánh trước và sau điều trị cho thấy nồng độ FSH và LH giảm rõ rệt, trong khi số lượng nang noãn thứ cấp (AFC) tăng lên đáng kể (P < 0,05).
Dương Lệ Khôn và cộng sự chia ngẫu nhiên 104 bệnh nhân suy giảm dự trữ buồng trứng thành các nhóm điều trị. Nhóm châm cứu được lựa chọn các huyệt Liệt khuyết (LU7), Chiếu hải (KI6), Tứ mãn (KI14), Đại Hách (KI12)… và điều trị trong 12 tuần. Sau điều trị, tỷ lệ hiệu quả chung đạt 97,78%. Châm cứu giúp cải thiện rõ rệt thể tích buồng trứng, nồng độ hormon sinh dục huyết thanh (FSH, tỷ lệ FSH/LH, AMH) cũng như số lượng nang noãn thứ cấp (AFC).
Vương Lâm Lâm và cộng sự, dựa trên học thuyết “âm dương tiêu trưởng chuyển hóa”, đã tiến hành điều trị POI theo từng giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt. Căn cứ vào đặc điểm sinh lý của phụ nữ với sự chuyển hóa âm dương qua các giai đoạn:
- Sau kỳ kinh: thiên về âm;
- Kỳ rụng trứng: cực âm chuyển sang dương;
- Trước kỳ kinh: dương tăng, âm giảm;
- Kỳ hành kinh: cực dương chuyển sang âm;
Ở mỗi giai đoạn lựa chọn những huyệt vị chuyên biệt nhằm thúc đẩy sự chuyển hóa bình thường của âm dương. Kết quả cho thấy, so với nhóm đối chứng (điều trị bằng đường uống Femoston), nhóm châm cứu cải thiện rõ rệt:
- Nồng độ hormone kháng Müller (AMH) trong huyết thanh;
- Các triệu chứng thời kỳ tiền mãn kinh;
- Số lượng nang noãn thứ cấp cơ bản (AFC).
Ngoài ra, dựa trên học thuyết “Nhất nguyên tam kỳ” (一源三岐), các huyệt Tử cung (EX-CA1), Thái xung (LR3), Trung cực (CV3), Mệnh môn (GV4), Bách hội (GV20), Tam âm giao (SP6)… được lựa chọn để điều trị.
Kết quả cho thấy tỷ lệ hiệu quả chung của nhóm châm cứu cao hơn nhóm đối chứng (điều trị bằng Ích Mã Hân, Progynova và Letrozole) với tỷ lệ 86% so với 54%. Điều này cho thấy phương pháp châm cứu dựa trên học thuyết “Nhất nguyên tam kỳ” có thể cải thiện rõ rệt môi trường nội tại của buồng trứng.
Liệu pháp cấy chỉ tại huyệt đơn thuần
Một nghiên cứu đã phân ngẫu nhiên 74 bệnh nhân POI thành các nhóm điều trị. Các huyệt chính được lựa chọn gồm Tam âm giao (SP6), Can du (BL18), Tỳ du (BL20), Trung cực (CV3)… và tiến hành cấy chỉ tại huyệt.
Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp này có hiệu quả duy trì tốt trong việc:
- cải thiện nồng độ hormon sinh dục;
- cải thiện màu sắc, tính chất và chu kỳ kinh nguyệt;
- giảm các triệu chứng của thời kỳ tiền mãn kinh.
Đặc biệt, về hiệu quả lâu dài trong việc giảm các cơn bốc hỏa, ra mồ hôi, tăng nồng độ estradiol (E2) và cải thiện màu sắc kinh nguyệt, nhóm cấy chỉ cho kết quả tốt hơn nhóm đối chứng được điều trị bằng estrogen – progesterone đường uống.
Triệu Tĩnh Tĩnh và cộng sự đã điều trị 30 bệnh nhân POI thể can thận âm hư bằng phương pháp cấy chỉ tại huyệt. Các huyệt được lựa chọn gồm Thứ liêu (BL32), Quan nguyên (CV4), Tử cung (EX-CA1), Noãn sào (huyệt Buồng trứng), Can du (BL18), Tỳ du (BL20)…
Sau điều trị, tỷ lệ hiệu quả đạt 86,67%; nồng độ FSH huyết thanh giảm, trong khi E2 tăng lên rõ rệt (P < 0,05)
Điều trị phối hợp dán thuốc tại huyệt
Chung Hải Anh và cộng sự đã điều trị 78 bệnh nhân POI thể thận âm bất túc bằng Ích Noãn thang (益卵汤) kết hợp dán thuốc tại huyệt. Các huyệt được lựa chọn gồm: Túc Tam lý (ST36, hai bên); Tam âm giao (SP6, hai bên); Khí hải (CV6).
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hiệu quả của nhóm điều trị phối hợp đạt 94,87%, cao hơn rõ rệt so với nhóm chỉ dùng thuốc Đông y (76,92%).
Liệu pháp phối hợp có thể:
- cải thiện hiệu quả các triệu chứng lâm sàng;
- tăng nồng độ estradiol (E2);
- tăng tốc độ dòng máu nuôi buồng trứng;
- giảm nồng độ FSH và LH;
- cải thiện chức năng buồng trứng
Điều trị phối hợp cứu ngải
Ôn cứu bằng ống cứu (温灸罐) là một phương pháp ngoại trị tổng hợp của Y học cổ truyền, có tác dụng điều hòa âm dương, thông kinh hoạt lạc, điều hòa khí huyết, ôn dưỡng Xung – Nhâm, từ đó giúp kinh nguyệt đến đúng kỳ.
Trên lâm sàng, liệu pháp ôn cứu bằng ống cứu được ghi nhận có hiệu quả trong điều trị POI thể thận hư.
- Nhóm điều trị được áp dụng liệu pháp ôn cứu tổng hợp, kết hợp cứu ngải, cạo gió, giác hơi cân bằng và xoa bóp.
- Nhóm đối chứng được điều trị bằng liệu pháp hormon estrogen – progesterone tuần tự.
Kết quả cho thấy tỷ lệ hiệu quả chung của nhóm điều trị cao hơn nhóm đối chứng (87,50% so với 80,00%). So với liệu pháp hormon, ôn cứu bằng ống cứu có hiệu quả tốt hơn trong:
- giảm điểm đánh giá hội chứng Y học cổ truyền (kinh nguyệt thưa, vô kinh, mất ngủ nhiều mộng, giảm ham muốn tình dục…);
- tăng số lượng nang noãn thứ cấp (AFC);
- cải thiện chức năng buồng trứng.
Hứa Nhã Ny và cộng sự đã áp dụng điện châm kết hợp cứu ngải cho những bệnh nhân kinh nguyệt ít, vô sinh do thể thận tinh hư, Xung – Nhâm thất điều.
Các huyệt được sử dụng gồm: Bách hội (GV20); Đại Hách (KI12); Tử cung (EX-CA1); Thái xung (LR3); Thận du (BL23); Thứ liêu (BL32)…
Sau khi châm bằng hào châm và đạt đắc khí, các kim được nối với máy điện châm; đồng thời đặt hộp cứu ngải tại vùng hạ vị trong 30 phút. Sau quá trình điều trị, bệnh nhân đã mang thai thành công.
Điều trị phối hợp châm cứu và dùng thuốc
Lương Thiếu Vinh và cộng sự đã áp dụng phương pháp “bổ thận sơ can, lý khí hoạt huyết” kết hợp châm cứu và dùng thuốc để điều trị bệnh nhân POI thể thận hư, can uất.
Nhóm dùng thuốc được điều trị bằng Femoston kết hợp với Bổ thận thư can phương (bài thuốc tự xây dựng) gia giảm.
Nhóm châm cứu được chia thành hai tổ huyệt luân phiên:
- Nhóm huyệt A: Thận du (BL23), Can du (BL18), Tam âm giao (SP6)…
- Nhóm huyệt B: Tử cung (EX-CA1), Hợp cốc (LI4), Thái xung (LR3)…
Kết quả cho thấy tỷ lệ hiệu quả chung của nhóm điều trị kết hợp cao hơn rõ rệt so với nhóm chỉ dùng thuốc (90,62% so với 70,00%).
Tống Giai Linh đã chia ngẫu nhiên 60 bệnh nhân POI thể thận hư huyết ứ thành các nhóm điều trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy điện châm kết hợp Femoston và bài thuốc Lão suy điều bổ thang (早衰调补汤) có hiệu quả vượt trội hơn nhóm đối chứng (chỉ dùng Femoston + Lão suy điều bổ Thang) trong việc: cải thiện các triệu chứng lâm sàng như bốc hỏa, ra mồ hôi trộm; làm giảm nồng độ FSH huyết thanh.
Điều trị phối hợp cấy chỉ tại huyệt
Trữ Chí Yến đã áp dụng phương pháp bổ thận điều Xung kết hợp cấy chỉ tại huyệt để điều trị POI.
Hiệu quả điều trị của nhóm phối hợp cao hơn cả:
- Nhóm B: chỉ dùng thuốc thang Y học cổ truyền.
- Nhóm C: chỉ điều trị bằng cấy chỉ tại huyệt.
Tỷ lệ hiệu quả lần lượt là:
- 80,0% (điều trị phối hợp);
- 60,0% (chỉ dùng thuốc);
- 40,0% (chỉ cấy chỉ);
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,01).
Ngoài ra, nhóm điều trị phối hợp còn cải thiện rõ rệt:
- nồng độ hormon sinh dục;
- tình trạng kinh nguyệt;
- các triệu chứng theo Y học cổ truyền.
Qua đó thúc đẩy sự phát triển của nội mạc tử cung, sự phát triển của nang noãn, từ đó nâng cao tỷ lệ mang thai.
Cho đến nay, y học hiện đại vẫn chưa làm sáng tỏ hoàn toàn nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của suy giảm chức năng buồng trứng sớm (POI). Phương pháp điều trị chủ yếu hiện nay là liệu pháp bổ sung hormon, tuy nhiên việc sử dụng kéo dài các chế phẩm hormon sinh dục có thể làm tăng nguy cơ huyết khối – tắc mạch cũng như làm gia tăng nguy cơ ung thư. Trong khi đó, Y học cổ truyền có nhiều phương pháp điều trị đặc sắc đối với POI, chủ yếu bao gồm: điều trị nội khoa bằng thuốc Y học cổ truyền; điều trị ngoại khoa như châm cứu, cấy chỉ tại huyệt và các phương pháp khác.
Trên lâm sàng, việc biện chứng luận trị và áp dụng các phương pháp điều trị tổng hợp có thể cải thiện rõ rệt: tình trạng kinh nguyệt; chức năng dự trữ buồng trứng; đồng thời duy trì hiệu quả điều trị trong thời gian dài.
Cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ học vấn của phụ nữ ngày càng được nâng cao, vai trò của phụ nữ trong lao động sản xuất cũng ngày càng lớn. Bên cạnh đó, họ vẫn phải cân bằng giữa công việc, gia đình và gánh nặng sinh sản. Trong bối cảnh tuổi sinh con ngày càng muộn, áp lực công việc và cuộc sống ngày càng gia tăng, cùng với sự nâng cao nhận thức về bệnh tật và chăm sóc sức khỏe, công tác chẩn đoán và điều trị POI trên lâm sàng cần tiếp tục được hoàn thiện.
Bài tổng quan này đã hệ thống hóa các phương pháp điều trị Y học cổ truyền thường được sử dụng đối với POI cùng với cơ sở lý luận của từng phương pháp, nhằm cung cấp tài liệu tham khảo cho thực hành lâm sàng.
Tài liệu tham khảo
黑龙江中医药大学研究生院,黑龙江 哈尔滨. 中医治疗早发性卵巢功能不全的研究进展. 临床医学进展, 2023, 13(10), 16923-16928。